xuất sang lĩnh vực phi sản xuất, từ trong nước ra ngòai nước và ngược lại. Nếu
nhà nước có chính sách điều chỉnh tốtcác quan hệ tài chính nảy sinh trong quá
trình di chuyển đó thì có thể thúc đẩy quá trình tập trung vốn cho đầu tư phát
triển , giảm bớt các chi phí không cần thiết và thu hút được nhiều vốn đầu tư
nước ngoài. Đây là nhiệm vụ, vai trò cực kỳ quan trọng, nhất là trong giai đọan
đầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho
chủ nghĩa xã hội.
-Cung cấp cho các nhà đầu tư những cơ hội và hình thức đầu tư đa dạng và
phù hợp. Nhà nước trên cơ sở kiểm tra giám sát bằng đồng tiền, nắm được thực
tế hoạt động của nền kinh tế, có thể dùng các biện pháp đầu tư thêm vốn, bổ
sung thêm vốn để đẩy mạnh những ngành kém phát triển và các lĩnh vực trọng
yếu của nền kinh tế quốc dân. Hay Nhà nước cũng có thể dùng biện pháp giảm
vốn đầu tư và hỗ trợ để hạn chế sự phát triển của những ngành những khâu chưa
cần thiết. Đồng thời, Nhà nước cũng có thể thông qua việc nâng cao hoặc hạ
thấp thuế suất để điều tiết hoạt động đầu tư kinh doanh giữa các ngành.
-Làm tăng khả năng thanh khoản của các công cụ tài chính và giúp đánh
giá xác thực hơn giá trị của các doanh ngiệp và nền kinh tế.
-Và cuối cùng là giúp thực hiện một các có hiệu quả hơn các chính sách
kinh tế vĩ mô theo hướng thị trường mở. Thông qua việc điều chỉnh các quan hệ
thu - chi tài chính và phân phối thu nhập, theo nguyên tắc khuyến khích vật chất,
xử lý chính xác mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa nhà nước, doanh nghiệp,
người lao động, tài chính có thể nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh
doanh; thông qua giám đốc tài chính mà có thể duy trì kỷ luật tài chính, góp
phần đẩy lùi lãng phí, tham ô,
1.2. Tổng quan về thị trường tài chính Việt Nam.
Tính từ năm 1986, năm bắt đầu công cuộc đổi mới ở Việt Nam, như vậy
sau hơn 20 năm đổi mới, hệ thống tài chính Việt Nam đã có những bước chuyển
biến lớn, từ hành chính bao cấp sang vận hành theo cơ chế kinh tế thị trường.
5
Dẫn chứng cho những điều đó, ta có thể thấy: nước ta đã có nhiều cải cách về hệ
thống thuế, đổi mới hệ thống ngân hàng và tiền tệ, phát triển thị trường bảo
hiểm, xây dựng thị trường thị trường chứng khoán,…Có thể nói cho đến nay,
nước ta đã có một cấu trúc thị trường tài chính khá đầy đủ. Tuy nhiên không chỉ
hình thành một cách đầy đủ mà thị trường tài chính Việt Nam những năm gần
đây đã phát triển mạnh và đạt được tốc độ tăng trưởng cao vượt bậc, nhanh
chóng trở thành “địa điểm” đầu tư hấp dẫn trong con mắt của các nhà đầu tư, tổ
chức nước ngoài. Theo nhận định của những nhà chuyên môn, thị trường tài
chính Việt Nam là một trong những thị trường tài chính phát triển nhanh nhất
thế giới.
Thị trường tài chính Việt Nam được hình thành trong thời kỳ đổi mới,
ngày càng gia tăng về quy mô; đồng bộ về cơ cấu, hiện đại hơn về công nghệ,
nghiệp vụ và cũng ngày càng khẳng định đậm nét hơn vị thế không thể thiếu
được trong tổng thể nền kinh tế thị trường, đặc biệt trong tạo động lực định
hướng và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cả hiện tại lẫn
tương lai Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, xét về tổng thể,
thị trường tài chính Việt Nam hiện nay nổi lên một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, thị trường tài chính chưa phát triển đồng bộ về cơ cấu, chưa
đồng đều về trình độ giữa các bộ phận hợp thành.Có thể nói, ở nước ta cho đến
nay, dường như còn chưa có thị trường tài chính thực sự với đầy đủ hình hài, bộ
phận cần có như thị trường tài chính ở các nước khu vực có nền kinh tế thị
trường phát triển. Các hoạt động trên thị trường tài chính ở nước ta mới chỉ tập
trung vào thị trường vốn ngắn hạn, chưa nhiều các hoạt động trên thị trường vốn
dài hạn. Hơn nữa, trong thị trường vốn ngắn hạn cũng chủ yếu mới tập trung ở
một số hoạt động huy động và cho vay tín dụng thông thường của các ngân
hàng thương mại nhà nước, còn ở thị trường vốn dài hạn mới tập trung ở các
hoạt động vay nợ dài hạn của Chính phủ hoặc doanh nghiệp nhà nước Thị
trường chứng khoán - một định chế tài chính tiên tiến, thước đo trình độ phát
6
triển thị trường của một quốc gia, một hình thức tổ chức trực tiếp giữa người có
cung - cầu vốn, không có trung gian tài chính, một thị trường liên tục, gần với
thị trường cạnh tranh hoàn hảo - thì hầu như chưa hình thành với tư cách một thị
trường, cũng như chưa được mở rộng trên cả nước. Cho đến nay, mới chỉ có 1
trung tâm giao dịch chứng khoán ở Thành phố Hồ Chí Minh, với 21 công ty
niêm yết với tổng giá trị cổ phiếu tương đương 130 triệu USD, tức chưa đến 2%
GDP cả nước năm 2002. Tổng cộng mới có 11 công ty chứng khoán, 6 công ty
kiểm toán, 3 ngân hàng lưu ký nước ngoài được thừa nhận về tư cách pháp lý
phục vụ cho 21 công ty niêm yết nói trên và 13000 tài khoản đầu tư thống kê
được tại các công ty chứng khoán và chỉ khoảng 1/4 số tài khoản này là hoạt
động thực sự (trong đó tài khoản của các nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư có
tổ chức rất ít). Đó là chưa kể chỉ số chứng khoán Việt Nam (VN Index) hiện đã
giảm còn chừng 1/3 so với đỉnh điểm (khoảng 150 điểm vào giữa tháng 7/2003
so với 571 điểm ngay 25/6/2001).
Thứ hai, quy mô thị trường còn nhỏ, các hàng hóa và dịch vụ tài chính còn
nghèo nàn, đơn giản và tính chuyên nghiệp chưa cao. Mặc dầu còn thiếu số liệu
đầy đủ để đánh giá tổng quát quy mô thị trường tài chính của nước ta cả về tổng
thể, cũng như từng bộ phận, song có thể cảm nhận thấy sự khiêm tốn của chúng
qua số lượng và quy mô vốn điều lệ, cũng như khả năng thanh toán của các ngân
hàng, công ty tài chính và các cơ sở kinh doanh khác đang hoạt động trong lĩnh
vực tài chính. Hiện tại, trên địa bàn thủ đô Hà Nội - trung tâm tài chính hàng đầu
của cả nước - có 113 các tổ chức tài chính, tín dụng hoạt động, bao gồm 67 ngân
hàng và chi nhánh ngân hàng, 2 công ty tài chính, 6 công ty cho thuê tài chính, 9
công ty chứng khoán, 9 quỹ tín dụng nhân dân và 5 quỹ tài chính Nhà nước. Các
ngân hàng và công ty bảo hiểm quốc doanh lớn nhất nước ta cũng mới chỉ cung
cấp chừng 60 sản phẩm dịch vụ cho các khách hàng so với từ 200 - 600 sản
phẩm dịch vụ hết sức đa dạng và linh hoạt của các ngân hàng và công ty bảo
hiểm trung bình ở các nước phát triển trên thế giới. Đa số dân cư và phần lớn
các hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước còn nằm ngoài "vùng phủ sóng" của
7
các dịch vụ thị trường tài chính; nhiều doanh nghiệp đang khát vốn kinh doanh,
trong khi thiếu cơ chế và công cụ hiệu quả khai thông nguồn vốn "chết" trong
dân, trong các ngân hàng Tính chuyên nghiệp và năng động của các nhân
viên và cơ sở kinh doanh tín dụng "đen" hoặc tư nhân ở góc độ nào đó đang tỏ
ra hiệu quả hơn so với các cơ sở tín dụng quốc doanh.
Thứ ba, thị trường tài chính còn tập trung vào “sân chơi” và đối tác thuộc
khu vực kinh tế nhà nước, chưa có sư liên thông và mở rộng trong cả nước cũng
như với nước ngoài. Có thể nhận thấy trong bức tranh chung hoạt động của thị
trường tài chính ở nước ta, các điểm sáng và đầu mối cung - cầu lớn nhất, các
công cụ tài chính quan trọng nhất, dường như đều tập trung trong sân chơi giữa
các đối tác thuộc khu vực kinh tế nhà nước với nhau hoặc huy động vốn từ xã
hội, nhưng lại đầu tư cho khu vực kinh tế này, và ước tính có lẽ chiếm không
dưới 80% tổng giá trị các giao dịch hiện hành trên thị trường tài chính nước ta.
Các ngân hàng, cơ sở kinh doanh tài chính tư nhân và các đối tượng vay vốn tư
nhân còn chiếm tỷ lệ khiêm tốn. Rất nhiều doanh nghiệp tư nhân ở nước ta đang
gặp khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ tài chính - ngân hàng do thiếu tài sản
thế chấp, thiếu dự án kinh doanh "khả thi", thiếu thông tin cần thiết, thiếu sự
thấu hiểu và tận tụy của ngân hàng hoặc đơn giản chỉ là do chưa quen vì chưa
từng được hưởng các dịch vụ tài chính này
Thứ tư, thị trường tài chính hoạt động chưa mang tính thị trường cao và
chưa gắn đồng bộ với các thị trường khác trong nền kinh tế. Rất nhiều ngân
hàng, công ty tài chính vẫn còn mang dáng dấp và phong cách kinh doanh của
thời bao cấp. Hơn nữa, do còn một số bất cập trong khung pháp lý về hoạt động,
do tập trung vào các đối tác thuộc khu vực kinh tế nhà nước, nên các nguyên tắc
kinh doanh thị trường nhiều khi được thực hiện một cách ước lệ, hình thức.
Dòng vốn xã hội, thông qua thị trường tài chính, vẫn chưa được thực sự chảy
đến những nơi cần đến và tuân theo tín hiệu, nguyên tắc thị trường. Tính cạnh
tranh thị trường giữa các ngân hàng mới đựoc khởi động gần đây, từ khi Ngân
8
hàng nhà nước áp dụng chế độ lãi suất cơ bản và bãi bỏ kiểm soát lãi suất Nợ
quá hạn, khó đòi của nhiều ngân hàng còn cao do ngân hàng chịu sức ép "cho
vay chính sách", còn các đối tác được vay thì sẵn tâm lý xin hỗ trợ chính sách
càng nhiều càng tốt Hơn nữa, thị trường tài chính dường như còn hoạt động
một cách đơn độc, thiếu gắn kết đồng bộ với nhiều thị trường và các hoạt động
kinh tế - xã hội lớn khác. Chẳng hạn, thị trường chứng khoán còn thờ ơ với quá
trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; hoặc thị trường tiền tệ trong nước còn
khá ""lãnh đạm"" với thị trường tài chính quốc tế Những rủi ro phi thị trường
còn lớn đối với các hoạt động kinh doanh trên thị trường tài chính, nhất là thị
trường chứng khoán (do thông tin cổ phiếu thiếu về số lượng, không đảm bảo về
chất lượng hoặc không kịp thời ).
Thứ năm, thị trường tài chính đang từng bước được xây dựng, củng cố và
phát triển phù hợp quá trình chuyển đổi cơ chế và đáp ứng các cam kết hội nhập
và thông lệ quốc tế. Đây đã, đang và sẽ còn là đặc điểm lớn nhất bao trùm,
xuyên suốt, chi phối và định hướng toàn bộ qua trình vận động của thị trường tài
chính Việt Nam. Cùng với sự chuyển biến về nhận thức và sự hoàn thiện cơ chế
thị trường mở nói chung, hệ thống pháp lý kinh tế nói riêng, thị trường tài chính
Việt Nam sẽ ngày càng được củng cố và phát triển vững chắc, an toàn và hiệu
quả hơn cả về bề rộng lẫn bề sâu. Các bộ phận thị trường trong hệ thống thị
trường tài chính sẽ tiếp tục mở rộng về quy mô, tăng thêm các công cụ, dịch vụ
chuyên nghiệp, phân nhánh chi tiết và rõ nét hơn các bộ phận thị trường chuyên
biệt (ví dụ, thị trường cổ phiếu doanh nghiệp sẽ phân thành thị trường cổ phiếu
của nhóm doanh nghiệp cơ khí, nhóm doanh nghiệp may mặc, nhóm doanh
nghiệp giầy, ). Kiến thức, tâm lý và thông tin về thị trường tài chính sẽ được
củng cố, cải thiện cả về phía bên cung lẫn bên cầu, cũng như bên trung gian và
toàn xã hội, tạo thuận lợi cho hoạt động của thị trường tài chính. Đặc biệt, thị
trường tài chính Việt Nam sẽ ngày càng được kết nối đồng bộ với các thị trường
khác trong nền kinh tế, được liên thông với thị trường tài chính quốc tế và thu
9
hút ngày càng rộng rãi hơn và phục vụ ngày càng có chất lượng, hiệu quả hơn
mọi thành viên, đối tác và các hoạt động kinh tế - xã hội đất nước.
2.Các loại thị trường tài chính chủ yếu ở nước ta hiện nay.
2.1.Thị trường tiền tệ.
Ngân hàng quốc gia Việt Nam được thành lập từ tháng 5 năm 1951 ở vùng
tự do trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Sau ngày miền Nam hòan toàn giải
phóng cả nước tồn tại một hệ thống ngân hàng Nhà nước từ trung ương đến chi
nhánh ở các tỉnh và chi điếm ngân hàng các huyện. Trong thời gian này, hệ
thống tổ chức ngân hàng nói trên là hệ thống ngân hàng một cấp độc quyền; trực
tiếp kinh doanh tiền tệ, hoạt động thông qua các trung tâm tiền mặt, trung tâm
tín dụng, trung tâm thanh toán và kinh doanh vàng bạc, đá quý. Tuy nhiên kiểu
hoạt động này chỉ thích ứng với điều kiện chiến tranh và mô hình kinh tế chỉ huy
quan liêu, bao cấp. Khi nền kinh tế chuyển sang kinh tế thị trường, hệ thống này
bộc lộ nhiều nhược điểm. Bởi lẽ hệ thống đó không phân biệt chức năng quản lý
vĩ mô của Nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ với chức năng kinh doanh của các
ngân hàng thương mại.
Phải đến tận năm tháng 9 năm 1990, Chính phủ ban hành Luật Ngân hàng,
từ đó thay đổi hệ thống ngân hàng về mặt tổ chức từ một cấp đã chuyển thành hệ
thống ngân hàng hai cấp: Ngân hàng Nhà nước và ngân hàng thương mại(kinh
doanh).
- Ngân hàng Nhà nước có hệ thống tổ chức gồm Ngân hàng trung ương và
các chi nhánh của nó tại các tỉnh, thành phố trong cả nước.
- Ngân hàng thương mại, mà hình thức tổ chức của nó khá đa dạng dựa
theo các tiêu thức khác nhau để phân loại.
2.2.Thị trường vốn.
Trong bối cảnh, thị trường tài chính Việt Nam đang phát triển một cách
mạnh mẽ, tốc đọ tăng trưởng cao vượt bậc, trở thành một trong những thị trường
10
tài chính phát triển nhanh nhất thế giới, thì việc tăng cường thu hút nguồn vốn
nước ngòai đầy tiềm năng cùng với việc xây dựng và phát triển thị trường vốn
an tòan hiệu quả, từng bước hội nhập với thị trường vốn khu vực và thế giới
đang là mục tiêu trọng tâm mà các nhà quản lý trong ngành tài chính hướng tới.
Ngày 27/10/2005, trái phiếu Chính phủ Việt Nam lần đầu chào bán trên thị
trường vốn quốc tế. Đó là bước đi đầu tiên cho các doanh nghiệp Việt Nam tiếp
cận thị trường vốn quốc tế. Trong bối cảnh nguồn viện trợ chính thức(ODA)
đang ngày càng thu hẹp dần và dự kiến đến năm 2010 sẽ biến mất khỏi cơ cấu
vốn vay thì trái phiếu trở thành một kênh huy đọng vốn quan trọng cho đầu tư
phát triển. Sau hơn 10 năm nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm, khi đã có đủ
những điều kiện thuận lợi: kinh tế trong nước phát triển, nợ nước ngoài ở mức
an toàn, thị trường tài chính thế giới ổn định cộng với nhu cầu vốn đầu tư cho
phát triển ngày càng lớn, việc chào bán trái phiếu lần đầu tiên trên thị trường
quốc tế của Việt Nam đã thu được những kết quả vô cùng khả quan. Tuy nhiên
ngoài vấn đề thu hút vốn đầu tư, vấn đề sử dụng hiệu quả nguồn vốn như thế nào
mới là quan trọng.
Sau đợt phát hành trái phiếu đầu tiên đó, thị trường vốn ở nước ta vẫn tiếp
tục đạt được tốc độ tăng trưởng cao vượt bậc. Năm 2006, Việt nam thu hút được
9,22 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài, trong đó đầu tư mới của các công ty Nhật
bản chiếm 1,06 tỷ USD, tăng gấp đôi so với năm 2005 và gấp 6,5 lần so với năm
2001. Các chuyên gia nước ngoài cũng đánh giá cao môi trường đầu tư của Việt
Nam. Đó cũng chính là lí do Euro Events, đơn vị chuyên tổ chức các hội nghị về
vốn uy tín trên thế giới, đã lựa chọn Việt Nam là nơi tổ chức hội nghị về phát
triển thị trường vốn và tài chính quy mô lớn vào cuối năm qua. Trái phiếu từ
Việt Nam được dự đóan sẽ tăng nhanh trong năm 2007-2008 do các công ty phát
hành trái phiếu mới sẽ gia tăng. Giấy chứng nhận sở hữu hiện tại của Việt Nam
hoạt động khá tốt trên thị trường thứ cấp (qua đợt phát hành 500 triệu USD trái
phiếu Chính phủ ra thị trường quốc tế năm 2006) và điều này cho thấy các nhà
11
đầu tư rất muốn được tiếp cận nhiều hơn với Việt Nam đồng thời cũng mở
đường cho các công ty Việt Nam tiếp cận các nhà đầu tư toàn cầu.
Việc chính phủ Việt Nam quyết hoàn thành tiến trình đổi sở hữu doanh
nghiệp Nhà nước sẽ mở cơ hội cho các nhà đầu tư nước ngòai tìm được thị
trường dầu tư. Song song đó, việc Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế
giới cũng tạo điều kiện để Việt Nam hấp thu hết các nguồn vốn đầu tư gián tiếp,
và cũng là cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư, thu hút vốn trên thị
trường thế giới. Theo các chuyên gia, hiện tại tiềm năng tăng trưởng của các
doanh nghiệp Việt Nam là rất lớn, vì so với các doanh nghiệp nước ngoài xuât
phát điểm của các doanh nghiệp Việt Nam còn thấp. Chính điều này đã dặc biệt
hấp dẫn các doanh nghiệp nước ngoài. Bên cạnh đó việc nhiều doanh nghiệp
đang niêm yết tại thị trường Việt Nam chuẩn bị niêm yết trên thị trường nước
ngoài, cùng với sự phát triển vượt bậc của thị trường chứng khóan Việt Nam
trong hơn một năm qua đã khiến các nhà đầu tư nước ngòai thêm quan tâm đầu
tư vào cổ phiếu doanh nghiệp Việt Nam.
2.3.Thị trường chứng khoán.
Mối quan tâm về thị trường chứng khoán ở Việt Nam có lẽ chưa bao giờ
nóng như thời gian gần đây, đặc biệt sau khi Việt Nam chính thức gia nhập
WTO, tổ chức thương mại thế giới. Thị trường đã liên tục phá vỡ những kỷ lục
mới, khi tâm lý đầu cơ hầu như chi phối hoàn toàn các nhà đầu tư nội địa, theo
sau những đánh giá lạc quan và các động thái đầu tư chiến lược của các nhà đầu
tư nước ngoài.Cải cách kinh tế đang đi đúng quỹ đạo, và triển vọng tăng trưởng
kinh tế đang rất sáng sủa là hai trong số những yếu tố chính làm các nhà đầu tư
nước ngoài đổ tiền vào thị trường Việt Nam. Trong khi đó, thị trường đang ở
trạng thái hưng phấn quá mức, được quản lý còn khá lỏng lẻo, và cực kỳ rủi ro
cho những nhà đầu tư amateur mù mờ.
12
Thị trường bùng nổ
Ở Việt Nam hiện nay, dân chúng đổ xô vào mua chứng khoán như thể
không còn ngày mai. Người ta chỉ quan tâm đến chuyện mua mà không cần
quan tâm đến các doanh nghiệp phát hành chứng khoán đang làm gì, có tỷ suất
P/E hay lợi tức như thế nào. Kết quả của làn sóng đầu cơ này là sự thăng hoa
của VN-Index, từ 100 điểm vào lúc khai trương năm 2000 lên trên 750 điểm
trong tuần qua. Giá chứng khoán tăng từng ngày mà không vì lý do cụ thể gì.
Trong thời kỳ 2002-2005, thị trường đã tăng trưởng với tốc độ gộp 19%/năm.
Hơn thế nữa, chỉ trong 3 tháng gần đây, VN-Index đã tăng gần 19%, mà theo
các chuyên gia thì không có tiền lệ ở trên thế giới.
Tuy vậy, bất chấp sự phát triển có tính bùng nổ của thị trường chứng
khoán gần đây, nó vẫn còn quá nhỏ bé về quy mô. Sau hơn 4 năm đi vào hoạt
động, số lượng công ty niêm yết hiện nay mới chỉ là trên 60, so với 24 công ty
năm 2000. Mặc dù khối lượng vốn hóa ước tính đã đạt trên 3 tỷ USD, tăng một
cách ấn tượng so với con số 16,8 triệu USD vào năm 2000, nó mới chỉ tương
đương với gần 6% GDP - một con số quá nhỏ so với mức 20-30% GDP của các
nước trong khu vực. Xét về trị giá khối lượng cổ phiếu giao dịch hàng ngày, con
số này của thị trường chứng khoán Việt Nam mới đạt khoảng 6,6 triệu USD,
thấp xa so với mức 314 triệu USD/ngày của Thái Lan. Với những con số không
mấy ấn tượng về quy mô thế này, thật ngạc nhiên tại sao thị trường chứng khoán
Việt Nam lại thu hút được sự quan tâm mạnh mẽ của giới đầu tư như vậy.
Trên thực tế, thị trường chứng khoán Việt Nam có một số điểm đủ làm
hưng phấn các nhà đầu tư. Trước tiên, còn rất nhiều công ty sáng giá chưa được
niêm yết, đặc biệt các đại gia trong các ngành chủ chốt như viễn thông, ngân
hàng, xây dựng, bất động sản Thị trường giao dịch cổ phiếu không chính thức
(OTC) có quy mô rất đáng kể, trị giá khoảng trên 4 tỷ USD, và đang hoạt động
rất sôi động. Nếu cộng dồn thị trường OTC này với thị trường chứng khoán và
thị trường trái phiếu chính phủ và các giấy tờ có giá khác (ước tính khoảng 5 tỷ
13
USD) thì bức tranh sẽ trở nên hoàn toàn khác. Ngoài ra, Chính phủ còn có kế
hoạch nâng quy mô thị trường chứng khoán lên tới 20-30% GDP vào năm 2010.
Đây là điều xem ra nằm trong tầm tay, với hàng loạt công ty đang chờ niêm yết
trên thị trường và nhiều công ty đã niêm yết đang chuẩn bị phát hành thêm cổ
phiếu.
Tâm lý phong trào
Tuy không thể phủ nhận rằng tiềm năng phát triển của thị trường chứng
khoán Việt Nam còn rất lớn, nhưng vấn đề đáng lo ngại ở đây là những nhà đầu
tư tham gia vào cuộc chơi này đa phần là các nhà đầu tư nội địa cò con - những
người coi thị trường chứng khoán chỉ như một kênh đầu tư thay thế cho vàng và
bất động sản. Hầu như không có một tổ chức kinh doanh chứng khoán nội địa
(của người Việt Nam) nào cả. Theo một ước tính của Ủy ban Chứng khoán Nhà
nước, có đến 90% các nhà đầu tư là các cá nhân người Việt Nam. Phần lớn các
tổ chức đầu tư chuyên nghiệp là những tổ chức do người nước ngoài thành lập
tại Việt Nam. Con số và quy mô của các tổ chức này còn nhỏ nhưng đang phát
triển khá nhanh. Điều quan trọng là họ hoạt động với một sự lạc quan có chừng
mực. Với tâm lý phong trào, thị trường đã liên tục bị đẩy đến những cơn sốt nối
tiếp nhau. Trong khi đó, đa phần các nhà đầu tư nước ngoài có cái nhìn tỉnh táo
hơn về thị trường, mà theo họ tuy vẫn rất có triển vọng nhưng không đến mức
quá cao.Về điểm này, có thể nói sự sụt giảm mạnh của VN-Index từ sau tháng 4,
và gần đây là cuối tháng 11 (có ngày rớt tới 60 điểm) xem ra lại là một điều tích
cực vì ngoài việc nó tạo một cơ hội mua vào cho những nhà đầu tư chiến lược
trong dài hạn (đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài), nó còn là điều cảnh tỉnh cho
các nhà đầu tư nội địa rằng thị trường chứng khoán mới nổi là con phố hai chiều,
kể cả trong bối cảnh có tăng trưởng kinh tế nhanh.
Nhà đầu tư nước ngoài vẫn bị trói tay.Thực tế không đúng như kỳ vọng
của giới đầu tư nội địa. Rào cản về hành chính và luật lệ đã làm nản lòng nhiều
nhà đầu tư. Ví dụ, nhà đầu tư có thể mua bán chứng khoán trực tiếp từ nước
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét