Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Cộng đồng các dân tộc thiểu số trôi nổi trên dòng sông "Đổi mới" nông lâm trường


Cộng đồng các dân tộc thiểu số trôi nổi trên dòng sông ‘đổi mới’ Nông Lầm trường
Trần thị Lành – August, 2012
5

Thiên nhiên Việt nam ngày càng mất đi những giá trị đa dạng sinh học và
các di sản cảnh quan độc đáo mà hàng trăm năm, hàng triệu tỉ đồng cũng khó tái
dựng trở lại.

Chính phủ Việt nam sẽ phải đối mặt với nguy cơ ‘tự cô lập mình trong lòng
dân’. Chính sách phát triển quốc gia để lại đằng sau những ấm ức và bất hạnh.
Tính an toàn liên thế hệ về nhân phẩm, về lòng tự trọng dân tộc, tinh thần đoàn kết
và tin tưởng lẫn nhau trong xã hội sẽ bị xói mòn theo năm tháng, bởi công sản
rừng và đất thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý chưa được
chia sẽ công bằng và có đạo đức như là ‘một Chính phủ của dân, do dân và vì
dân’. Chiến lược lãnh đạo và sứ mệnh ‘Bởi dân, do dân và vì dân’ và vì một xã hội
Việt nam mà ở đó “Nghĩa vụ và Quyền giữa Dân, Cộng đồng, các Tổ chức Nhà
nước và các Công ty” chưa thể hiện bằng hành vi, chưa thiện ý bằng thực tế và,
chưa cởi mở bằng trái tim và lý trí của người lãnh đạo. Hậu quả của các chữ ký
7

lợi dụng quyền, các văn bản lợi dụng vị thế quyền lực, đã gián tiếp tử hình sinh kế
của hàng vạn dân đang sống trong rừng đầy trách nhiệm tự nguyện phụng dưỡng
rừng xưa và nay, mà không xảy ra một cuộc cách mạng nào, mới là kết cục đáng
buồn cho cả dân và Chính phủ. Còn một cuộc cách mạng phải xảy ra thì mới là
theo qui luật tất yếu của sinh tồn: “tức nước vỡ bờ” để phát triển hài hòa. (Ngẫm
những kẻ mũ cao áo rộng. Ngòi bút nghiên thác ở trong tay. Kinh luân đựng một
túi đầy. Đã đêm quản Nhạc, lại ngày chu quân; tưởng chỉ trong quá khứ nhưng lại
tái hồi xuân mãnh liệt hôm nay).

1. Tại sao có sự khác nhau cơ bản về quyền và quan niệm đối xử với rừng
giữa Cộng đồng và Chính phủ?! 2. Sự khác nhau cơ bản được thể hiện và minh
họa hàng ngày như thế nào tại các vùng rừng?! (xem chi tiết tại nghiên cứu điểm
thôn Lùng sán, xã Lùng sui do SPERI thực hiện thông tư 07/TTLT/2011).

II. Các nổ lực của Chính phủ “bởi dân, do dân và vì dân”

II.1. Phục hồi hậu chiến tranh (1975-1986 - 1992)

II.1. a. Tâm lý và ý thức dân tộc sau chiến tranh

Sự hãnh diện và tự hào của một thời kỳ tập trung triệt để các nguồn lực về ý
chí, về sáng tạo, đặc biệt là chung lòng, chung sức đoàn kết gắn bó chiến đấu vì Tổ
quốc của dân, của ý Đảng và lòng dân là một, của sự vận dụng triệt để các thế
mạnh của rừng, đặc biệt là tinh thần vì Tổ quốc của Cộng đồng ở trong rừng trong
chiến tranh, cả đất nước vui mừng trong chiến công chấn động địa cầu mùa xuân
1975. Cộng đồng tại thời khắc đất nước ngàn cân treo sợi tóc lúc bấy giờ không

7
Những văn bản đồng tình ủng hộ các Công ty thành lập thiếu kiểm soát để tích tụ rừng và đất bằng chiếm đoạt các cánh rừng của
đồng bào trên khắp cả nước. Tri lễ, một xã vùng cao có tới 4 loại hình công ty nhưng xuất thân từ một cặp bố mẹ

Cộng đồng các dân tộc thiểu số trôi nổi trên dòng sông ‘đổi mới’ Nông Lầm trường
Trần thị Lành – August, 2012
6
chỉ là mẹ chiến sĩ ‘Bầm của con, Mẹ vệ quốc quân, con đi xa cũng như gần, anh
em đồng chí quây quần là con, con đi trăm nẻo đường quê, chưa bằng muôn nỗi tái
tê lòng Bầm, nhớ thương con Bầm yên tâm nhé, Bầm của con mẹ vệ quốc quân’.
Chiến tranh và tang tóc, Cộng đồng không chỉ là mẹ của người chiến sĩ, mà là căn
cứ chính trị, quân sự, an ninh, và hơn thế nữa, là điểm tựa của ý thức và tinh thần
đoàn kết dân tộc quân dân như cá với nước, một chỗ dựa về niềm tin và lòng thủy
chung tuyệt đối của lực lượng quốc phòng. Khó tìm thấy ai thay thế Cộng đồng
trong rừng làm chỗ dựa khi vận nước ngàn cân treo sợi tóc. Một bác dân tộc Katu
tâm sự “quê mình ở suối La La, có bài hát ơi con suối Lala, Chiến tranh, dân tộc
mình giúp bộ đội đuổi giặc. Hòa bình, bộ đội bỏ đi, không thấy bộ đội quay lại
bản thăm mình, thấy cán bộ định canh định cư đến, nó nói mình lạc hậu, nó cho
mình gạo và muối, nó mắng mình không biết nói, không biết chữ, mình không
được ở lại với suối La la, dân tộc mình phải chuyển đi nơi khác, nó không cho
mình cúng suối Lala, không cho mình ở với suối Lala, thần suối Lala không vui,
mình buồn vì phải bỏ Thần suối ra đi không một lần tạ lỗi. Bây giờ mình thấy có
lỗi với Thần suối Lala. Có một ngày, Bác Chính phủ đến, ôm mình và hỏi, mình
đói như thế nào, mình lắc đầu, mình không nói, mình nói tiếng mình, mình sợ sai,
bác Chính phủ sẽ phạt”.

Hòa bình lập lại ai cũng có thể thay thế Cộng đồng ở trong rừng. Các thế
mạnh của rừng, những hệ giá trị của Cộng đồng sống trong rừng như cúng Thần
suối Lala trở thành cụm từ ‘mê tín dị đoan’ và là chướng ngại lớn cho tiến trình
‘tái thiết đất nước sau chiến tranh’! Ở đâu có tín ngưỡng thờ cúng Thiên nhiên là ở
đó gặp phải những phản ứng của Cộng đồng khi vào khai thác. Do vậy, xuất hiện
các lập luận của các nhà xã hội học, dân tộc học thời trứng nước của nền tảng hiểu
biết vốn dĩ vay mượn từ phương Tây, thiếu chính kiến thực tiễn, đã vô hình chung
ngụy biện cho các nhà chính sách cái gọi là “tái định canh định cư” để biện minh
cho các hành vi di dời Cộng đồng ra khỏi rừng và thay thế bởi các ông chủ Lâm
trường và các công ty do Nhà nước điều hành nhằm tạo ra không gian thuận lợi để
khai thác rừng âu cũng là điều dễ cảm thông trong bối cảnh tái thiết đất nước sau
chiến tranh với một nền tảng xã hội học, nhân chủng học chưa được đúc kết đích
thực từ thực tiễn của cuộc sống. Câu hỏi đặt ra là lập trường và thái độ của các nhà
lãnh đạo trong định hướng mục tiêu và hành động ứng xử với Cộng đồng trong
từng vùng miền để chèo lái tinh thần đoàn kết và ý chí dân tộc cùng vươn lên và
tiếp tục làm giàu ý Đảng lòng dân khi đất nước hòa bình để tránh dẫm đạp lên các
giá trị riêng của nhau, tránh tước đoạt quyền sinh tồn cơ bản của nhau, không vi
phạm các hành vi chia đàn xẽ nghé và triệt tiêu các tinh hoa đa dạng văn hóa vốn
dĩ đã trở thành di sản truyền thống của chính Cộng đồng, của cả quốc gia, đã trở
thành hơi thở với sự đâm chồi nảy lộc của trữ lượng rừng, của sinh khối rừng và
của các vị Thần trong rừng nói riêng cũng như; với nhiều bậc tiền bối lãnh đạo
rừng và đưa đất nước thoát khỏi ách thực dân đang mỉm cười ở nơi chín suối.
Điều gì xảy ra khi ly tán Cộng đồng ra khỏi rừng và thế chỗ bởi lực lượng gìn giữ
rừng bằng làm công ăn lương? Điều khi xảy ra khi giữa Cộng đồng và Chính phủ

Cộng đồng các dân tộc thiểu số trôi nổi trên dòng sông ‘đổi mới’ Nông Lầm trường
Trần thị Lành – August, 2012
7
ngày càng xa nhau chỉ vì mệnh lệnh và thiếu thiện chí trong ứng xử đúng pháp lý
và; phải đạo lý về nghĩa vụ và quyền đồng quản lý, bảo vệ và đồng hưởng dụng
rừng giữa Cộng đồng – Nhà nước và Công ty!.

Khẩu hiệu: “Đi lên Chủ nghĩa Xã hội từ Chế độ Phong kiến - 1959”, và trở thành
mệnh lệnh và ý chí của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và, toàn bộ sinh linh cây cỏ
(toàn bộ tài nguyên thiên nhiên) thuộc lãnh thổ Việt nam khi bắt đầu phải đối mặt
với Chiến tranh chống Mỹ. Mệnh lệnh này được các Nhà lãnh đạo tâm đắc và tự
tin tuyên bố: “Xây dựng một xã hội Xã hội Chủ nghĩa không qua giai đoạn Tư
bản Chủ nghĩa” ngay sau kết thúc chiến tranh 1975, trong một trạng thái đầy kiêu
hãnh của Người chiến thắngg (mùa xuân năm 1975). Các nhà lãnh đạo lúc bấy giờ
e vì quá hân hoan nên đã vứt bỏ trí thông minh, tri thức biện chứng của qui luật và
hành vi sống Vị đạo, hành xử Vị nghĩa đối với đồng bào, một nguồn vốn xã hội
dân sự truyền thống sẵn sàng cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh, đã kề vai sát cánh
cùng các nhà lãnh đạo đi suốt chặng đường đấu tranh giành độc lập dân tộc và
thành công trong chiến tranh chống giặc ngoại xâm: ‘dễ trăm lần không dân cũng
chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong!’. Chính phủ tiếp tục phong cách và hành vi
‘mệnh lệnh’ từ đầu não trong chiến tranh chống giặc ngoại xâm áp vào một giai
đoạn hoàn toàn mới của đất nước (hòa bình) và, lãng quên nét tế nhị của một nền
văn hóa lấy hành vi ứng xử hàng ngày trên nền bản lĩnh “đỉnh cao của văn minh
là hành vi” vốn dĩ đã đi vào từng đường gân thớ thịt của dân tộc Việt cổ và đương
đại đã đành, thêm vào đó là thiếu chất liêm sĩ của người lãnh đạo đối với hai tiếng
‘Cộng đồng’. Hầu hết văn bản pháp luật và hành vi thực tế tập trung ưu tiên và tin
cậy vào Lâm trường Quốc doanh và các công ty trực thuộc Lâm trường để tấn
công chiếm lĩnh rừng và đất nơi Cộng đồng sinh ra, lớn lên, trường tồn theo thời
gian và; dùng mệnh lệnh định canh định cư để bưng bê Cộng đồng ra khỏi rừng và
sống biệt lập trông chờ phát chẩn từ cán bộ định canh định cư là thất lễ, thất đức
và thất đạo trong mọi biện minh.

II.1. b. Ý chí lãnh đạo đất nước sau chiến tranh

Kết thúc chiến tranh, đất nước phục hồi hậu quả chiến tranh dựa vào kế
hoạch và qui mô khai thác rừng để tái thiết đất nước dưới nhiều hình thức: 1)
Rừng khai thác được trực tiếp kiến thiết đất nước sau chiến tranh tàn phá; 2) Xuất
khẩu rừng thô để tăng quĩ tiền tệ phục vụ cho nhiều mục tiêu và nhu cầu của nhân
dân; 3) Qui hoạch lại rừng để bảo tồn
8
; 4) Định canh định cư
9
Cộng đồng ra khỏi
các cánh rừng để tập trung khai thác
10
và phát triển
11
. Khác với thời kỳ 1975-1986,

8
Bẩo tồn và phát triển theo ý chí chủ quan từ trên xuống đã thay thế nhiều vùng đất tổ tiên của đồng bào
trở thành những Lâm trường chuyên khai thác
9
Đồng bào các dân tộc thiểu số buộc phải di dời đi nơi khác và được bảo trợ bởi dự án định canh định cư,
lấy lợi ích từ khải thác tài nguyên làm nguồn trợ cấp và bao cấp cho cả đồng bào dân tộc và cán bộ nông
lâm trường. Cả đất nước ăn rừng
10
Khai thác: bán nguyên liệu thô, chế biến tài thiết đất nước
11
Trồng các cánh rừng kinh tế để sử dụng làm nguyên liệu giây sợi, gỗ trụ mõ…

Cộng đồng các dân tộc thiểu số trôi nổi trên dòng sông ‘đổi mới’ Nông Lầm trường
Trần thị Lành – August, 2012
8
Chính phủ chỉ đạo tập trung khai thác rừng để ‘hồi phục hậu quả chiến tranh’, thì
giai đoạn 1986 – 1999, Chính phủ chỉ đạo xuyên suốt ‘phục hồi rừng do hậu quả
khai thác bừa bãi’ của 1975-1986. Vòng luẩn quẩn bắt đầu từ đây.

Tiếp tục mệnh lệnh theo kiểu chỉ đạo cả nước trong chiến tranh, ‘Đóng cửa
rừng’ số 90- CT ngày 19/3/1992 là mệnh lệnh đầu tiên. Hệ thống Lâm trường vốn
dĩ thiện nghệ về chức năng khai thác rừng trong suốt hơn một thập kỳ (1975-
1990), Chính phủ ‘Đóng cửa rừng’, về mặt pháp luật là đóng cửa sinh kế của hàng
trăm Cộng đồng với hàng chục triệu dân sống trong rừng và hàng trăm ngàn công
nhân viên Lâm trường sống dựa vào khai thác rừng hơn một thập kỷ. (1975-1990)
(xem nghịch lý về tổng diện tích rừng mà Nông Lâm trường làm chủ với một đội
ngủ làm công ăn lương mỏng manh, trong khi hơn 15 triệu đồng bào chỉ được
thấp thỏm chưa đến 1/5 số diện tích do cán bộ công nhân viên Lâm Nông trường
đảm nhận)

Rừng đối với Cộng đồng là niềm tự hào trong chiến tranh đối với người
chiến sĩ, Cộng đồng cung cấp rau rừng, thuốc chữa bệnh từ rừng, và là không
gian an toàn của lòng người và tình rừng để giấu các nhà lãnh đạo chiến tranh.
Nguồn tri thức từ rừng của Cộng đồng là một lịch sử của thích nghi, của tiến
trình nuôi dưỡng và sáng tạo hàng trăm năm. Thời bình rừng là chợ, là bệnh viện,
là trường học, là nơi thờ tự các vị Thần Thiên nhiên, là không gian tự do và sáng
tạo nguồn vốn tri thức hiểu biết về thế giới tự nhiên phục vụ cho nhu cầu vị Cộng
đồng và vị thiên nhiên. Với đất nước rừng được ví tựa như ‘hồn Tổ quốc ngự nơi
rừng sâu thẳm, rừng suy tàn Tổ quốc suy vong’!.

Các cộng đồng đối tác của SPERI từ Bắc tới Nam, từ Việt nam đến nước
bạn trong lưu vực sông Mê kong, đồng bào đều thể hiện khá giống nhau về đạo lý
ứng xử với rừng, mặc dù dưới các cách thể hiện có khác nhau. Trong khi Chính
phủ thì coi đồng bào vái lạy rừng là những biểu hiện mê tín dị đoan, lạc hậu.
Nhiều bản làng bị các chương trình định canh định cư, tự tiện thay tên, đổi họ, ly
tán buôn làng ra khỏi nơi thờ tự Thiên nhiên và Tổ tiên. Hậu quả của gần 30 năm
kể từ 1975, định canh định cư đã gây ra cho nhiều già làng, nhiều cộng đồng cảm
thấy bị tổn thương. Họ bị tước đoạt không gian phụng thờ Thiên nhiên và Tổ tiên,
họ thấy mình tự xúc phạm và thất đức với truyền thống và đạo lý của dân tộc
mình. Họ phải sống triền miên trong khủng hoảng khi bị tách khỏi rừng và ngày
càng ngấm sâu trong tâm khảm của họ. Có những già làng tâm sự trong ngậm ngùi
với những hơi thở dài ngao ngán khi sống trong các khu tái định canh định cư theo
kiểu chuồng chim bồ câu được thiết kế giở trống giở mái kỳ quái của một thời kỳ
kiến trúc, cảnh quan hỗn độn đến mức quên cả không gian cho đồng bào thực hiện
các chức năng sinh lý hàng ngày như đại tiện tiểu tiện cũng bị tước đoạt trong các
tư duy thiết kế qui hoạch. Định canh định cư triệt tiêu thô bạo những kiến trúc thờ
tự thế giới tự nhiên được thể hiện bằng sự gửi gắm niềm tin và linh hồn thông qua
kiến trúc nhà, nóc nhà, mái nhà, cửa ra vào, cửa sổ, cột nhà, buồng thiêng, bếp,

Cộng đồng các dân tộc thiểu số trôi nổi trên dòng sông ‘đổi mới’ Nông Lầm trường
Trần thị Lành – August, 2012
9
cầu thang nam, cầu thang nữ trước khi bàn giao chìa khóa trao tay các khu nhà tái
định cư cho đồng bào. Cộng đồng phải tìm về chốn cũ, sống trong tâm trạng và
thực trạng phi pháp bởi rừng của họ đã trở thành rừng trong tay các ông chủ Lâm
trường và các công ty, họ sống trong vụng trộm ngay trên mảnh đất Tổ tiên của
chính họ và bị qui phạm pháp
12
. Nghị định 200/2004 “Chương IV. Các giải pháp
cụ thể. Điều 7. Về đất đai. Điểm 2. Xử lý, giải quyết dứt điểm các trường hợp
tranh chấp và vi phạm pháp luật về đất đai (đất Lâm trường bị lấn chiếm, có tranh
chấp, vi phạm) giải quyết dứt điểm đối với từng trường hợp cụ thể theo qui định
của Pháp luật. Họ càng thấy tội lỗi với rừng, với chính mình, với Tổ tiên, nhưng
hơi thở và sinh kế buộc họ phải đâm lao theo lao và chờ ngày phán quyết của các
vị Thần Thiên nhiên. Tên gọi Chính phủ trở nên xa lạ dần và ngày càng cách biệt.
Cuộc bạo loạn Tây nguyên 2001 là một ví dụ đau đớn xót xa cho cả dân tình và
thế thái quan sang. Lịch sử rất muốn quẳng vào dĩ vãng nhưng thực tế ấy vẫn trần
trụi, âm thầm và cháy bỏng chỉ vì sự tiếp tục mệnh lệnh trong chiến tranh mà chưa
chưa chịu phục thiện và phục sinh đối với Cộng đồng tại thời điểm thế nước vận
nhà đang chao đảo trong hội nhập toàn cầu hóa lấy đấu giá rừng và đất của nhân
dân để cạnh tranh lợi ích trên các sàn chứng khoán. Nghị định 200/2004. Ủy ban
Nhân dân cấp tỉnh xác định hoặc điều chỉnh lại diện tích, ranh giới các loại đất
giao cho các Công ty Lâm nghiệp, Ban quản lý Rừng dự kiến thành lập. Điểm 4.
Mục a. Giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với Ban quản lý rừng phòng hộ,
rừng đặc dụng, Lâm trường chuyển đổi sang loại hình đơn vị sự nghiệp có thu, đất
để làm dịch vụ sản xuất giống, chuyển giao dịch vụ, đất phục vụ cho mục đích
công cộng trong các công ty Lâm nghiêp. Với đồng bào, ngôi nhà không chỉ để
che mưa che nắng như đinh canh định cư hiểu, ngôi nhà là bảo tàng nuôi dưỡng
niềm tin đối với các vị Thần Thiên nhiên, xây dựng nhà là chiến lược giáo dục và
giáo dưỡng của, đồng bào truyền lại những đạo lý ứng xử với các vị Thần của Tư
nhiên trong rừng. Nhân Nghĩa đó ở trong rừng là không thừa và không thiếu để
giữ gìn và nuôi dưỡng và phát huy tri thức sáng tạo đồng bào trong không gian
sinh tồn tự tại từ thế hệ này sang thế hệ khác. Những ngôi nhà của định canh định
cư theo văn hóa chìa khóa trao tay để di dời đồng bào ra khỏi rừng là một hạ sách
trong chiến lược lãnh đạo quốc gia, thiếu hiểu biết về văn hóa, về đa dạng sinh học
và phát triển hài hòa, trống vắng đạo đức ‘nhà nước của dân, do dân, và vì dân’.
(Xem chi tiết nghiên cứu điểm làng tái định cư của đồng bào Rơ ngao và Bana ở xã
Hơ Moong, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum do tái định cư thuỷ điện)

II.2. ‘Đổi mới’ - kinh tế đa thành phần (1992 - 1999)

Song song thời điểm 1986 – 1992 - 1999, giao thời của một loạt cân nhắc
hậu quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội bỏ qua thực chứng Tư bản Chủ nghĩa, cả đất
nước hướng tới kinh tế đa thành phần từ hai thành phần (kinh tế Nhà nước và Kinh

12
Pháp luật trong tay người thống trị. Nghị định 200/2004 “Chương IV. Các giải pháp cụ thể. Điều 7. Về đất đai.
Điểm 2. Xử lý, giải quyết dứt điểm các trường hợp tranh chấp và vi phạm pháp luật về đất đai (đất Lâm trường bị lấn
chiếm, có tranh chấp, vi phạm) giải quyết dứt điểm đối với từng trường hợp cụ thể theo qui định của Pháp luật.

Cộng đồng các dân tộc thiểu số trôi nổi trên dòng sông ‘đổi mới’ Nông Lầm trường
Trần thị Lành – August, 2012
10
tế tập thể thông qua Hợp Tác xã chả giống ai). Sự qua tâm đầu tiên của Nhà nước
là qui hoạch và phân tích lại toàn bộ hệ thống rừng
13
, nguồn vốn và điểm tựa duy
nhất để ‘Đổi mới’ xã hội và nâng cấp vai trò lãnh đạo của Chính phủ tiếp cận
‘Đổi mới’. Các chính sách ra đời thực hiện lộ trình ‘Đổi mới’ liên quan đến 19
triệu ha rừng và đất rừng được đặt lên vai các Nông Lâm trường Quốc doanh.
Chức năng khai thác trở thành chức năng tái trồng rừng, chăm sóc, và bảo vệ hạch
toán, gắn thu, bù chi là những mộng tưởng thiếu hiểu biết của một quốc gia bước
vào nền kinh tế đa thành phần, được định hướng một mũi tên từ trên xuống dựa
vào Nông Lâm trường trong suốt gần nửa thế kỷ, bắt đầu từ 1959, chủ trương đi
lên Chủ nghĩa Xã hội, bỏ qua chế độ Tư bản Chủ nghĩa vẫn chưa rõ hình hài!?.
Luật đất đai, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng cùng hàng chục văn bản dưới luật,
những chủ trương mở đường cho ‘Đổi mới’ trên 19 triệu ha rừng và đất tiếp tục
đặt lên vai các ông chủ Nông Lâm trường với những trái tim vô cảm và bộ nhớ đã
chất đầy các lưỡi cưa xẻ rừng làm bàn đạp của mọi lũy tiến, thật là chả giống ai!?.

Riêng phân tích công sản rừng và đất thông qua một chuỗi hệ thống số lần
qui hoạch duy ý chí từ trên xuống thông qua các văn bản ‘Đổi mới Lâm trường
Quốc doanh’ cũng đủ ngạt thở vì sự ưu tiên không biết điểm dừng cho các tổ chức
này. Hàng loạt chính sách
14
liên quan đến sắp xếp lại Nông Lâm trường Quốc
doanh, văn bản hướng dẫn thành lập các công ty trực thuộc Nông Lâm trường đều
tập trung khẳng định nhiệm vụ mở rộng diện tích chiếm dụng rừng và đất rừng.
Các văn bản vắng bóng dân. Việc ra đời chỉ thị này 90/CP/1992 đã tạo động lực
cho chính cán bộ công nhân viên Lâm trường và nhân dân sống trong rừng phá
rừng vô tội vạ bởi chủ rừng là các Lâm trường chính thức về văn bản là giải thể,
chuyển hình thức hạch toán, gắn thu bù chi trong lúc chưa có một giấy khai sinh
khác thay thế cho dù chỉ là giấy tờ thuần túy!? Đồng bào sống tại rừng hàng trăm
năm nay bị thông báo đóng cửa rừng, là hậu họa của người người vào rừng, nhà
nhà vào rừng, ngành ngành vào rừng.

Rừng bị tàn phá dữ dội, hàng trăm ngàn cán bộ công nhân viên Nông Lâm
trường khủng hoảng, Chính phủ bắt đầu nhận diện nguy cơ và; Quyết định của
Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng số 327/CT ngày 15/9/1992 về chủ trương chính sách
sử dụng đất trống, đồi núi trọc, rừng, bãi bồi, ven biển và mặt nước, được gọi tắt là
dự án 327 với hàng ngàn tỉ đồng.

13
Tư bản chủ nghĩa phân tích hệ thống tri thức công nghệ làm điểm tựa để tạo lợi nhuận. Chủ nghĩa Xã hội
Việt nam lấy rừng, đất rừng và các ông chủ Lâm trường làm nền tảng để tạo lợi nhuận.
14
1) Nghị định 388/HĐBT ngày 20/11/1991; 2) Chỉ thị 90-CT ngày 19/3/1992; 3) Chỉ thị 12/TCLN ngày 19/8/1992 của Bộ Lâm
nghiệp; 4) Nghị định 12/CP ngày 02/3/1993; 5). Nghị định01/NĐ-CP ngày 4/1/1995 về giao rừng và đất rừng lâu dài ổn định; 6)
661/QĐ -TTg ngày 29/7/1998 Quyết định;7) Nghị định số 163/1999/NĐ – CP ngày 16/11/1999; 8) Quyết định số 187/1999/QĐ-TTg;
2005 – 2010: 9) Số 3256/VPCP-NN ngày 13/6/2005; 10). Số 198/TB-VPCP ngày 28/11/2006 ; 11) Số 68/TB-VPCP ngày 14/3/2008 ;
12) Số 159/TB-VPCP ngày 18/5/2009 13) Số 6145/VPCP-KTN ngày 30/8/2010; 14) Số 25/TB-VPCP ngày 25/2/2011; 15) Số
1019/TTg-ĐMDN của Thủ tướng chính phủ ngày 24/6/2011 ; 16) Số 4664/VPCP-KTN ngày 11/7/2011; 17) Số 277/TB-VPCP ngày
16/11/2011; 18) Chỉ thị 03/CT-TTg ngày 17/1/2012 của Thủ tướng chính phủ; 19) Số 30/TB-VPCP ngày 1/2/2012 ; 20) Số
861/VPCP-ĐMDN ngày 15/2/2012 ; 21) Số 1449/VPCP-ĐMDN ngày 8/3/2012


Cộng đồng các dân tộc thiểu số trôi nổi trên dòng sông ‘đổi mới’ Nông Lầm trường
Trần thị Lành – August, 2012
11
Quyết định 327/CT ngày 15/9/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Phần
I. Chủ trương. Điều 2. “Việc xây dựng các dự án… dựa vào các Nông Lâm trường
hiện có, kể cả Nông Lâm trường quân đội làm nòng cốt…”

Để giải ngân được dự án 327, các Chủ Nông Lâm trường buộc phải có diện
tích rừng khoanh vẻ trên bản đồ, phải có đối tác và địa chỉ nhận khoán trồng và
chăm sóc, phải tuân thủ tiêu chí kiểm tra đánh giá tiến độ giải ngân và tỉ lệ rừng
sống sót sau khi nhận tiền trồng và chăm sóc, phải có số liệu báo cáo và phê
duyệt, phải có đầu ra dự kiến sau giải ngân, vân vân và vân vân. Công sản rừng
và đất rừng được các chủ nông lâm trường qui hoạch lần thứ nhất!

Dự án 327 là gói cứu trợ cho các chủ Nông Lâm trường đang rơi vào lâm
nguy cả về trữ lượng rừng và sinh kế của hàng trăm ngàn công nhân viên vốn dĩ
sống dựa vào nguồn bao cấp từ khai thác trong hơn một thập kỷ. Quyết định 327.
Mục III. Tổ chức thực hiện. Điều 17. mục gạch đầu dòng thứ tư có đề cập đến phê
duyệt các dự án 327 là Hai Trung tâm Khoa học Quốc gia và Ủy ban Khoa học
Nhà nước chịu trách nhiệm thẩm tra và phản biện, tuy nhiên chỉ dừng lại trên văn
bản của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Thực tế các chủ Nông Lâm trường, kể cả
Nông Lâm trường quân đội cùng với cán bộ địa chính mà phần lớn là ấu trỉ bản
đồ, đã thiên biến vạn hóa các cánh rừng thông qua cách khoanh vẽ để đối phó giải
ngân. (Nghiên cứu điểm Giao đất giao rừng xã Hạnh dịch, xã Sơn kim, xã Ngư
hóa về sự quan liêu, thiếu dân chủ đến mức chuyển luôn một bản, một vùng sang
thuộc địa giới hành chính của xã khác và huyện khác chỉ vì trình độ yếu kém và
thái độ vô trách nhiệm của cán bộ nhà nước)

Sau hai năm thực hiện dự án 327, Chính phủ ngộ ra nhiều bất cập. Nghị
định của Chính phủ số 02/CP ngày 15/1/1994 ban hành qui định về giao đất lâm
nghiệp cho tổ chức
15
, hộ gia đình
16
, cá nhân
17
sử dụng ổn định, lâu dài vào mục
đích Lâm nghiệp với hàng ngàn tỉ đồng.

Toàn bộ Nghị định 02/CP/1994 không đề cập đến ngưỡng diện tích khoán
đối với cá nhân, tổ chức, hộ gia đình. Nghị định 02/CP chỉ đề cập đến thời hạn
khoán rừng là 50 năm. Điều 6. điểm b. Đối vói các tổ chức khác, gia đình, cá
nhân là 50 năm. Hết thời hạn qui định tại điểm này nếu tổ chức, hộ gia đình, cá
nhân đó vẫn có nhu cầu và sử dụng đúng mục đích thì được Nhà nước xem xét
tiếp. Nếu trồng các loại cây Lâm nghiệp có chu kỳ trên 50 năm, thì sau 50 năm
được Nhà nước giao tiếp cho đến khi thu hoạch sản phẩm chính. Công sản rừng và
đất được hoạch lần thứ hai!.


15
Tổ chức: chủ yếu là các tổ chức thuộc lực lượng quân đội thời bình làm kinh tế nhận theo 02/CP
16
Hộ gia đình trên thực tế chưa có một hỗ trợ thực thi pháp lý đích thực để nhận khoán theo 02/CP.
17
Cá nhân: trên thực tế là các cán bộ thuộc con em Lâm trường nhận khoán để trồng, chăm sóc và bảo vệ theo cơ chế tự hạch toán
dựa vào thầu 327 để duy trì sinh kế sau khi giải thể bao cấp.

Cộng đồng các dân tộc thiểu số trôi nổi trên dòng sông ‘đổi mới’ Nông Lầm trường
Trần thị Lành – August, 2012
12
Nghị định 02/CP/1994 trên thực tế là tạo điều kiện cho các Chủ Nông Lâm
trường, cán bộ công nhân viên và những đối tác tinh ranh trong xã hội bắt đầu
tham gia nhận khoán với diện tích không hạn chế và thời hạn là 50 năm chăm sóc
và trồng rừng. Đồng bào, dân sở tại là những nạn nhân của định canh định cư, họ
không nằm trong sự may mắn là một đối tác trực tiếp thực hiện dự án 327 như các
chủ Nông Lâm trường.

Trong văn kiện của Nghị định 02/CP/1994. Điều 6. Điểm b. “…tổ chức
khác, cá nhân, thời hạn 50 năm. Hết thời hạn qui định….Nhà nước giao tiếp cho
đến khi thu hoạch sản phẩm chính’. Không giới hạn về diện tích rừng và đất rừng
nhận giao khoán cho Nông Lâm trường, hộ gia đình, tổ chức khác và cá nhân, là
một trong những khe hở và là cơ hội đầu cơ tích tụ công sản rừng và đất rừng cho
các cá nhân và tổ chức mà hậu đổi mới (1999-2005) gối đầu tiền tư nhân hóa
(2003 – 2012) đã biến tướng hợp pháp những cánh rừng và đất (tại thời điểm Nghị
định 02/CP là rừng và đất là công sản quản trị theo phong cách hành chính) thông
qua Nghị định 163/CP/1999 (5 quyền), những cá nhân tổ chức này nghiễm nhiên
trở thành những ông chủ rừng và đất (đất và rừng bắt đầu quản trị theo cơ chế và
phong cách thị trường). Các cá nhân, tổ chức nhận giao khoán rừng và đất năm
1994 theo Nghị định 02/CP với một cơ chế không giới hạn về diện tích; thời gian
nhận khoán là 50 năm; 10 năm sau gặp Nghị định 200/2004, Nghị định 200/2004.
Tại Điều 4. cổ phần hóa các Lâm trường kinh doanh rừng trồng gắn với cơ sở chế
biến. Điểm 6. Thực hiện bán cổ phần ưu đãi cho người sản xuất cung cấp nguyên
liệu cho các cơ sở chế biến. Nghị định 200/2004. Chương III. Đổi mới cơ chế quản
lý. Điều 5. Cơ chế quản lý của các Công ty Lâm nghiệp. Điểm 2. Thực hiện bán cổ
phần cho người sản xuất nguyên liệu, thí điểm cổ phần hóa rừng trồng. Nhiều
trong số các ông chủ rừng và đất sau này trở thành những nhà Quyền lực về kinh
tế, chính trị, thậm chí lũng đoạn các giá trị xã hội bởi những văn bản của Pháp luật
quan liêu, yếu kém cả về năng lực và tính trách nhiệm xã hội của văn bản. Nghị
định 200/2004 trong các vùng rừng, nơi vốn dĩ là đất Tổ tiên, nơi thờ tự các vị
Thần Thiên nhiên của đồng bào, và là nơi Hồn Tổ quốc ẩn náu để đưa máu chảy
về Trái tim nuôi dưỡng và duy trì qui luật sinh tồn của các dòng dinh dưỡng hạ
nguồn theo qui luật của Tạo hóa.

Gần một năm sau, Chính phủ tiếp tục khai sinh Nghị định 01/CP ngày
4/1/1995 qui định về việc khoán rừng và đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông
nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp Nhà nước với ???
Tỉ đồng. Nghị định 01/CP/1995. Điều 9. Giao khoán đất nông nghiệp. Điểm 3.
Thời hạn giao khoán là 50 năm. Điều 11. Giao khoán đất Lâm nghiệp. Điểm 2.
Thời hạn giao khoán rừng phòng hộ, rừng đặc dụng là 50 năm. Nghị định
01/CP/1995 cũng giống tư tưởng của Nghị định 02/CP là không có giới hạn diện
tích đất và rừng mà chỉ đề cập thời hạn là 50 năm đối với quĩ đất nông nghiệp,
rừng phòng hộ và cả rừng đặc dụng. Nghị định qui định rõ Nông Lâm trường là

Cộng đồng các dân tộc thiểu số trôi nổi trên dòng sông ‘đổi mới’ Nông Lầm trường
Trần thị Lành – August, 2012
13
đối tượng duy nhất được nhận khoán rừng và đất. Công sản Rừng và đất được qui
hoạch thứ ba vắng bóng dân!.

Sự nổ lực của cả hai Nghị định 02/CP/1994 và 01/CP/1995 đều kỳ vọng
rằng Ngân sách của nhân dân thông qua dự án 327/1992 sẽ mang lại hiệu quả cho
rừng, đất và cuộc sống của nhân dân.

Điểm qua thực trạng khoán, nhận của hai Nghị định dưới các bản đồ
khoanh vẽ nhận khoán trồng, chăm sóc rừng của dự án 327/1992 do dự án giao đất
giao rừng dựa vào Cộng đồng của Viện SPERI phát hiện bằng văn bản cũng đủ
thấy bát quái và nực cười khi đọc những tấm bản đồ được khoanh vẽ tại các xã
vùng cao. (Nghiên cứu điểm của TEW/CHESH/CIRD tại các vùng giao đất giao
rừng từ năm 1997 – 2005 tại Lao cai, Sơn la, Nghệ an, Hà tĩnh, Quảng bình,
Daklak, Gia lai)

Theo tâm sự chân tình của các vị lãnh đạo cấp xã và cấp huyện thời bấy
giờ, khi cán bộ kỹ thuật của FIPI (PhânViện qui hoạch điều tra rừng Bắc Trung
bộ) và chuyên gia của Viện SPERI cùng họ lần theo giấu vết của chồng lấn, của
chồng chéo, của những thứ lộn tùng phèo trong các văn bản lâm bạ, địa bạ, sổ
xanh và tranh chấp, thì mới ngộ ra rằng, những tấm bản đồ tô màu rất đẹp với các
lô các khoảnh được đánh dấu chuyên nghiệp, hóa ra đều là kết cục những chuyến
du ngoạn của cán bộ địa chính với các chủ Nông Lâm trường ‘cấp trên’!. Họ phân
loại rừng theo công nghệ bản đồ GPS, họ giải thửa đất theo ảnh viễn thám trên
những mảnh rừng, mảnh đất của dân, sau này lần theo những tấm bản đồ tô màu
rất chuyên nghiệp ở dưới là ‘công ty tư vấn đo đạc bản đồ’, ‘công ty đo đạc ảnh
địa hình’. Họ ngồi sau xe máy, họ chỉ tay và khoanh vẽ trên các bàn bia, rừng, đất,
đỉnh núi được định đoạt vận mệnh, được áng chừng, và thậm chí được di dời đi
đâu, thuộc quyền của ai đều bắt đầu từ những bày tay. Những bàn tay không phải
vô hình như lý thuyết của Adam Smith cuối thể kỷ 18 rung chuyển một thời.
Những bàn tay đích thực của người Cộng sản đang náo nức bước vào hội nhập lấy
rừng và đất của nhân dân để tiến thân trên kinh tế toàn cầu. Đây là thời điểm bắt
đầu tạo ra sự chồng chéo ngay các trên các bản đồ đã được hợp pháp để giải ngân
giữa Nghị định 02/CP và Nghị định 01/CP. Rét, rét ai ơi rét cháy lòng. Hồn buồn
tịch mịch đứng trông sông. Ke dè nước ngược Mây xây túi. Lướt mướt thuyền ai
nước ngược dòng. Cá phá chài ai tăm lớp rớp. Chim tìm tổ cộ giọng lun run. Quan
san thăm thẳm ai ai biết. Rét, rét ai ỏi, rét cháy lòng. (Nghiên cứu điểm SPERI trên
các địa bàn giao đất giao rừng trên 40.000 ha của các tỉnh từ năm 1995-2004)

Khi được nghe về khái niệm hợp đồng nhận giao và khoán để trồng chăm
sóc rừng dự án 327, một số cán bộ chia sẽ: Nấc giải ngân thứ nhất: Chính phủ
Trung ương hợp đồng với các chủ Nông Lâm trường. Nấc thứ hai: Chủ Nông Lâm
trường hợp đồng với các đơn vị trực thuộc. Nấc thứ ba: Các đơn vị trực thuộc ký
hợp đồng với các công ty dịch vụ cung ứng kỹ thuật. Nấc thứ tư: Các công ty dịch

Cộng đồng các dân tộc thiểu số trôi nổi trên dòng sông ‘đổi mới’ Nông Lầm trường
Trần thị Lành – August, 2012
14
vụ cung ứng kỹ thuật ký với các tổ chức, cá nhân tinh ranh trong xã hội. Nấc thứ
năm: các cá nhân và tổ chức tinh ranh hơn trong xã hội ký với người trồng và
chăm sóc trực tiếp.

Dự án 327 cùng với hai Nghị định 02/CP và 01/CP kéo dài được gần 5 năm
từ 1992-1997, Chính phủ vì rừng, vì đất, vì Lâm trường, vì hộ gia đình, vì các tổ
chức khác và vì cá nhân là những công dân Việt nam sinh sống tại Việt nam. Giai
đoạn này Chính phủ chưa đề cập đến người Việt định cư ở nước ngoài hoặc người
nước ngoài trong các văn bản tiếp cận rừng và đất. Tuy nhiên, trong gần 5 năm
thực hiện dự án 327, điều đáng tiếc là hữu xạ tự nhiên hương do cơ chế đẻ ra, đã
gieo rắc một thói quen ‘làm ăn’ thông qua ‘hợp đồng’ được chỉ đạo khít khịt khìn
khin theo một dòng quyền lực từ Trung ương đến các ông chủ Lâm Nông trường
và Giám đốc các công ty, các cá nhân, tổ chức (có quan hệ với Nông Lâm trường).
Khái niệm ‘làm ăn’ được dân hiểu là ‘văn hóa phong bì’ nếu muốn có hợp đồng
nhận khoán từ các ông chủ nhiều bậc mà tổng tham mưu là Lâm Nông trường.
Trong xã hội vùng núi bắt đầu xuất hiện thói quen phong bì và trở thành ‘điều
kiện’ giữa người muốn có hợp đồng nhận giao khoán trồng rừng và bên được
quyền ban phát hợp đồng. Một mất mát về đạo đức và quan hệ xã hội ngay trong
các bản làng. Cũng từ đây mà tính đoàn kết nội bộ trong một cộng đồng giữa
những người nhiều rừng nhiều đất và những hộ phải cày thuê cuốc mướn. Bên
cạnh đó, việc thông qua 5 cầu trung gian để giải ngân dự án 327 đã gây mất mát
đáng kể không chỉ về kinh phí của nhân dân, mà cả về đạo đức của thể chế, chỉ vì
quan điểm lãnh đạo độc quyền và quan liêu, trình độ quản trị yếu kém, thái độ
thiếu trách nhiệm của Nông Lâm trường, một lực lượng được Chính phủ ưu ái và
tin cậy. Vắng bóng hình dân. Xã hội vùng cao bắt đầu xuất hiện các nhóm lợi ích
không chính thức để thôn tính lẫn nhau thông qua ‘cò đất’ và ‘cò rừng’. Hành vi
tham nhũng bắt đầu xuất hiện. Mâu thuẫn giữa dân với Lâm trường, giữa cộng
đồng với các công ty trực thuộc Lâm trường bắt đầu nảy sinh.

Quốc hội sôi nổi luận bàn những cụm từ lạ hoắc trong văn hóa và bản chất
đạo đức của xã hội Việt nam như tham nhũng, cựa quyền, hạch sách. Những bất
ngờ chả tốt đẹp gì trên các kênh truyền hình cả nước. Đồng bào vùng cao, dân
vùng thấp, ai cũng tự hào về dân tộc Việt nam, cả thế giới chiêm ngưỡng nhân dân
Việt nam. Hai chữ Việt nam đã trở thành giấc mơ của nhiều quốc gia trên thế giới
về tinh thần đoàn kết, về khí phách anh hùng và sức chiến đấu trong tương quan
với các cường quốc năm châu nay trở thành điểm nhấn đề đàm tếu, để nghi hoặc
và lòng tự trong dân tộc đã ra đi không hẹn ngày về, vậy mà các văn bản vẫn tiếp
tục mệnh lệnh. Rút kinh nghiệm là gối đầu Quyết định 661/QĐ-TTg ngày
29/7/1998. Tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng.

Tiếp tục ‘Đổi mới’, rút kinh nghiệm dự án 327, Quyết định của Thủ tướng
Chính phủ số 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và
tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng. Lần nay Thủ tướng Chính phủ

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét