nhập khẩu sẽ mang lại lợi ích cho người tiêu dung trong nước, vì họ có thể tiếp
cận được với nhiều chủng loại hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu ở mức giá thấp
hơn. Những nhà sản xuất trong nước không thuộc lĩnh vực cạnh tranh với hàng
nhập khẩu sẽ có lợi vì họ không còn phải tranh dành nguồn lực với các lĩnh vực
trước kia được ưu đãi, các nguồn lực sẽ được phân bổ phù hợp với lợi thế so
sánh. Các khu vực sản xuất thay thế nhập khẩu cũng có lợi về lâu dài vì cạnh
tranh buộc họ phải sản xuất hiệu quả hơn
1.1.3.2. Tự do hóa thông qua các hiệp định thương mại song phương
Đây là biện pháp trong đó chính phủ nước này tiến hành ký kết hiệp định
hiệp ước với chính phủ các nước khác, trong đó các thỏa thuận các quy định về
cắt giảm rào cản thương mại và cam kết có tính ưu đãi nhằm phát triển quan hệ
thương mại giữa hai nước, trên cơ sở có đi có lại. Tự do hóa thương mại thong
qua việc ký kết các hiệp định song phương diễn ra phổ biến trong những năm
gần đây. Chỉ tính từ năm 1995- năm WTO ra đời , đến năm 2004 đã có 130
FTA mới được ký kết, trong đó 70% thỏa thuận tự do song phương. Theo các
hiệp định này hàng loạt các hàng rào về thuế quan, phi thuế quan và các rào cản
thương mại khác được rỡ bỏ
1.1.3.3. Tự do hóa thương mại đa phương trong khuôn khổ WTO
Tự do hóa thương mại đa phương trong khuôn khổ WTO là hình thức quan
trọng nhất hiện nay, vì phạm vi của nó bao gồm hầu hết các quốc gia trên thế
giới. WTO đóng vai trò tích cực nhất trong việc tạo ra một thể chế, một khuôn
khổ pháp lý cho các vòng đàm phán thương lượng đa phương về thương mại
quốc tế , giảm bớt đi tới xóa bỏ các rào cản thương mại, đảm bảo cạnh tranh
lành mạnh và không phân biệt đối sử trong thương mại trên phạm vi toàn cầu.
Hiện nay WTO đã là một tổ chức với 150 thành viên, điều tiết hầu hết các lĩnh
vực và khía cạnh của thương mại quốc tế. Sự gia tăng nhanh chóng về số lượng
thành viên và mức độ ảnh hưởng của WTO trong thương mại quốc tế cho thấy
tầm quan trọng của tự do hóa thương mại
1.1.3.4. Tự do hóa thương mại thông qua hội nhập khu vực
Tự do hóa thương mại thông qua hội nhập khu vực là một hình thức của tự
do hóa thương mại đang được nhiều nước lựa chọn trong những năm cuối thập
kỷ 90 cho đến nay. Đặc trưng của tiến trình tự do hóa thương mại thông qua
hội nhập là dựa trên nguyên tắc có đi có lại giữa các thành viên và tiến trình tự
do hóa thương mại được tiến hành thông qua các cam kết trên một diện rộng
các vấn đề lien quan đến thương mại. Mục tiêu chủ yếu của các lien kết khu
vực là tạo ra một môi trường thương mại ưu
Hội nhập kinh tế khu vực có thể có nhiều mức độ khác nhau. Các mức
độ đó có thể được chia ra làm nhiều loại hay hình thức từ thấp đến cao như sau
(xem hình 11.1):
- Hiệp định thương mại/thuế quan ưu đãi: là hiệp định ưu đãi một số
nước trong việc tiếp cận một số sản phẩm nhất định thông qua việc giảm thuế
quan nhưng hoàn toàn không dỡ bỏ nó. Các hiệp định ưu đãi bao gồm cả các
hiệp định thương mại song phương đối với một số nhóm hàng hóa. Đây là hình
thức thấp nhất của hội nhập kinh tế. Hiệp định thương mại ưu đãi ASEAN
(APTA) là một ví dụ.
- Khu vực thương mại tự do (FTA): là khu vực nơi các nước thành
viên dỡ bỏ tất cả các cản trở thương mại để đảm bảo tự do hóa thương mại. Tuy
nhiên, mỗi thành viên vẫn giữ những hàng rào thương mại riêng của mình với
các nước khác không phải là thành viên. Khu vực NAFTA là một ví dụ.
- Liên minh thuế quan: tương đương với khu vực thương mại tự do,
và thêm vào đó, các nước trong liên minh thuế quan áp dụng một chính sách
thuế quan chung hay thực hiện các chính sách và quan hệ đối ngoại chung.
Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC) là một ví dụ.
- Thị trường chung: là liên minh thuế quan nhưng cho phép các yếu
tố sản xuất như vốn và lao động được tự do lưu thông qua biên giới giữa các
nước thành viên. Thi trường chung Đông Phi (EACM) là một ví dụ. Thị trường
chung dần dần chuyển sang thị trường thống nhất khi các nước thành viên áp
dụng tiêu chuẩn hóa thống nhất đối với hàng hóa sản phẩm như Liên minh
châu Âu (EU) là ví dụ (Hộp 11.1).
- Liên minh kinh tế và tiền tệ: là thị trường chung với sự thống nhất về
các chính sách tiền tệ và tài chính. Khu vực tiền tệ châu Âu (Eurozone) là một
ví dụ.
- Hội nhập kinh tế hoàn toàn: là giai đoạn cao nhất của hội nhập kinh
tế, nơi các thành viên thực chất đã nằm trong một liên bang hay một quốc gia
có thể chế thống nhất và gần như có chính sách tài chính và tiền tệ chung. Hình
thức hội nhập này thường diễn ra trong một số nước hơn là đối với các siêu tổ
chức và thể chế.
Tại sao lại có quá trình tự do hoá thương mại ? Động lực nào cho tự do hoá
thương mại ? chúng ta cùng xem xét một số vấn đề lý luận tự do hoá thương
mại để giải thích động cơ, phương thức nguồn lực tự do thương mại giữa các
quốc gia trong phần sau.
1.2. Lý luận về về tự do hoá thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.1 Lý thuyết lợi thế so sánh tuyệt đối
Adam Smith, nhà kinh tế chính trị cổ điển Anh, bắt đầu thật đơn giản,
hai quốc gia trao đổi trên cơ sở tình nguyện thì cả hai quốc gia đều thu
được thặng dư. Nếu một quốc gia không thu được gì hoặc bị lỗ, họ sẽ từ
chối thương mại. Nhưng thặng dư qua lại từ thương mại đã được phát
sinh và chuyển dịch như thế nào ?
Theo Adam Smith, thương mại giữa hai quốc gia được dựa trên lợi
thế so sánh tuyệt đối. Khi một quốc gia sản xuất một hàng hoá có hiệu
quả hơn so với quốc gia khác nhưng kém hiệu quả hơn trong việc sản
xuất hàng hoá thứ hai, hai quốc gia có thể thu lợi ích bằng cách mỗi
quốc gia chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu hàng hoá mà họ có lợi
thế tuyệt đối, nhập khẩu hàng hoá mà họ không có lợi thế. Thông qua
quá trình này, các nguồn lực được sử dụng hiệu quả nhất và sản lượng
của hai hàng hoá đều tăng. Sự tăng lên về sản lượng của cả hai hàng hoá
này đo lường thặng dư từ chuyên môn hoá trong sản xuất được phân bố
lại giữa hai quốc gia thông qua thương mại.
Theo khía cạnh này một quốc gia cũng tương tự như một cá nhân
không nên sản xuất tất cả các loại hàng hoá cho mình, mà nên sản xuất
hàng hoá mình có sở trường nhất, đem trao đổi sản phẩm đó lấy sản
phẩm cần dùng, theo cách này tổng sản lượng của các cá nhân cộng lại
sẽ tăng và phúc lợi mỗi cá nhân sẽ tăng
Thương mại tự do có thể làm cho nguồn lực của thế giới được sử
dụng một cách hữu hiệu nhất và có thể tối đa hoá phúc lợi của toàn thế
giới. Việc sử dụng các chính sách hạn chế thương mại tạo ra lợi ích cho
thiểu số nhưng làm tổn thất tới đa số
1.2.2. Lý thuyết lợi thế so sánh tương đối của David Ricardo
Các quốc gia tham gia vào hoạt động thương mại với hai lý do cơ bản;
mỗi lý do đều liên quan đến những cái lợi thu được từ thương mại. Cũng
như cá nhân con người, các quốc gia có thể được lợi từ những khác biệt
của họ bằng cách đạt tới một sự dàn xếp theo đó mỗi nước sẽ làm những
gì xét một cách tương đối nước đó làm tốt hơn. Thứ hai, các nước tiến
hành buôn bán với nhau để đạt được lợi thế nhờ quy mô sản xuất. Điều
đó có nghĩa là, nếu như mỗi nước đi vào chuyên môn hoá ở một số hàng
hoá, nó có thể sản xuất hàng hoá ở quy mô lớn hơn và do đó hiệu quả
lớn hơn ở trường hợp nước đó sản xuất tất cả mọi thứ. Tuy nhiên, để tiếp
cận và tìm hiểu nguyên nhân và tác động của thương mại, là cần phải
xem xét những mô hình đã được đơn giản hoá trong đó chỉ có một trong
những lý do trên được thể hiện. Và một mô hình về lợi thế so sánh dựa
trên những khác biệt trong năng xuất lao động của các nước lần đầu tiên
được nhà kinh tế hoc David Ricardo đưa ra vào thế kỷ XIX và vì thế gọi
là mô hình Ricardo.
1.2.2.1 Nền kinh tế có một yếu tố sản xuất.
Để thấy được vai trò của lợi thế so sánh trong việc quyết định
thương mại ta xét nền kinh tế có một yếu tố sản xuất(L). Đồng thời giả
định chỉ có hai hàng hoá là rượu vang và pho mát được sản xuất. Kỹ
thuật sản xuất nội địa có thể tóm tắt bằng năng suất lao động trong từng
ngành công nghiệp. Sẽ thuận tiện hơn nếu chúng ta biểu thị năng xuất
dưới dạng yêu cầu lao động trên một đơn vị sản phẩm, tức là số giờ cần
thiết để sản xuất ra một kg pho mát và một lít rượu vang. Và khi đó ta ký
hiệu
lw
A
và
lc
A
là những yêu cầu về lao động theo đơn vị sản phẩm khi
sản xuất rượu vang và pho mát. L là tổng cung về lao động.
Mọi nền kinh tế đều có những hạn chế về nguồn lực, do đó có hạn chế
về năng lực sản xuất. Do vậy để sản xuất một mặt hàng nhiều hơn nền
kinh tế phải hy sinh một phần để sản xuất mặt hàng khác. Và điều này
được minh hoạ bằng đường giới hạn khả năng sản xuất.
Hình vẽ minh họa 1:đường giới hạn khả năng sản xuất.
Khi chỉ có một yếu tố sản xuất đường giới hạn khả năng sản xuất của
một nền kinh tế đơn giản chỉ là một đường thẳng. Ta có được đường giới
hạn khả năng sản xuất bằng những biến đổi sau: Giả thiết rằng
w
Q
là
lượng rượu sản xuất và
c
Q
là lượng pho mát sản xuất được trong nền
kinh tế. Khi đó, lượng lao động dùng để sản xuất rượu là
wlw
QA *
, lao
động dùng để sản xuất pho mát là
clc
QA *
. Tổng cung có giới hạn của
nền kinh tế là L. Giới hạn về sản xuất được xác định bằng bất đẳng thức:
LQAQA
w
w
lclc
≤+ **
(1)
Vậy ta thấy khi giới hạn khả năng sản xuất là một đường thẳng thì chi
phí cơ hội là không đổi(được tính bằng độ dốc của đường giới hạn khả
năng sản xuất). Chi phí cơ hội để sản xuất một kg pho mát là
lwlc
AA /
lít
rượu, thật vậy từ (1) ta có:
LxQAQA
w
w
lclc
≤−++ )(*)1(*
Tăng
c
Q
lên một đơn vị với L và năng xuất không đổi ta có:
LxQAAQA
w
w
llcclc
≤−++ )(**
Để vế trái không thay đổi thì ta có:
xAA
lwlc
*=
; Vậy
lwlc
AAX /=
X chính là số lít rượu phải hy sinh để sản xuất ra một kg pho mát.
Giá cả tương đối và sự cung ứng
Trong nền kinh tế cạnh tranh, cố gắng của cá nhân để đạt được lợi
nhuận tối đa sẽ quyết định sự cung ứng. Trong nền kinh tế đã được đơn
L/
L/
sản lượng pho mát
sản lượng rượu vang
giản hoá, do lao động là yếu tố sản xuất duy nhất, việc cung ứng pho mát
và rượu vang sẽ được quyết định bằng sự di chuyển lao đông tới ngành
nào trả lương cao hơn.
Ta giả thiết Pc và Pw lần lượt là giá của pho mát và rượu; trong mô
hình một yếu tố sản xuất không có lợi nhuận, mức lương mà người công
nhân nhận được bằng giá trị hàng hoá mà họ có thể sản xuất ra. Mức
lương trong một giờ lao động của người công nhân sản xuất rượu vang
và pho mát là:
lww
AP /
và
lcc
AP /
. Khi đó lương trong ngành pho mát cao
hơn nếu
lwlcwc
AAPP // >
và ngược lại. Nhưng mọi người sẽ muốn làm ở
ngành nào trả lương cao hơn. Nền kinh tế sẽ chuyên môn hóa sản xuất
pho mát nếu
lwlcwc
AAPP // >
và ngược lại sẽ chuyên môn hoá sản xuất
rượu vang. Chỉ khi nào mà
lwlcwc
AAPP // =
thì cả hai mặt hàng sẽ được
sản xuất.
Vậy ta có thể kết luận: nền kinh tế sẽ chuyên môn hoá sản xuất pho
mát nếu giá tương đối của pho mát cao hơn chi phí cơ hội; và nền kinh tế
sẽ chuyên môn hoá sản xuất rượu vang nếu giá tương đối của pho mát
thấp hơn chi phí cơ hội của nó.
Khi không có thương mại quốc tế, nền kinh tế Nội địa phải sản xuất
cả hai mặt hàng trên. Mặt khác chi phí cơ hội bằng với tỷ lệ yêu cầu lao
động theo một đơn vị sản phẩm của hai mặt hàng nên ta có kết luận: Khi
không có thương mại quốc tế, giá cả tương đối các hàng hoá phải bằng
yêu cầu tương đối về lao động các đơn vị sản phẩm.
1.2.2.2 Thương mại quốc trong nền kinh tế có một yếu tố sản xuất
Giả thiết tồn tại thị trường nước ngoài cũng với một yếu tố sản xuất
lao đông
*
L
, yêu cầu về lao động theo đơn vị sản phẩm để sản xuất pho
mát và rượu là
*
lc
A
và
*
wl
A
. Và năng xuất trong việc sản xuất pho mát của
nội địa cao hơn ở nước ngoài nhưng năng xuất trong việc sản xuất rượu
vang lại thấp hơn. Khi đó ta có bất đẳng thức:
*
w
*
w
//
llcllc
AAAA <
(2)
Biến đổi tương đương ta có :
*
ww
*
//
lllclc
AAAA <
Năng suất lao động tương đối trong ngành pho mát của nội địa cao hơn
rượu vang hay nội địa có lợi thế so sánh trong sản xuất pho mát(ở
đây
*
/
lclc
AA
là năng xuất lao động tương đối của ngành sản xuất pho
mát)
Khi không có thương mại quốc tế, theo kết luận trên giá tương đối của
pho mát ở thị trường nội địa là
w
/
llc
AA
và thị trường nước ngoài sẽ là .
Tuy nhiên, một khi tiến hành thương mại quốc tế, giá cả sẽ thay đổi, có
sự di chuyển luồng hàng hoá từ nơi rẻ sang nơi đắt hơn. Vậy giá cả
tương đối sẽ được xác định như thế nào sau khi có thương mại ?
Cũng như những loại giá khác, giá cả của hàng hoá buôn bán trên
quốc tế được quyết định bởi cung và cầu. Vì vậy ta xây dựng đường
cung và cầu của thế giới trong điều kiện có thương mại quốc tế
Đưòng cầu tương đối(D) : Giống như đương cầu thông thường về hàng
hoá có độ dốc âm biểu thị mối quan hệ nghịch chiều giữa lượng cầu
tương đối và giá cả tương đối.
Đường cung tương đối(S): có hình dáng đặc biệt như bậc thềm, khi hiểu
được hình dáng của đường cung ta sẽ hiểu được mô hình xác định giá cả
tương đối của thế giới với hai thị trường nội địa và nước ngoài.
Hình vẽ minh họa 2: Minh hoạ đường cung và đường cầu hàng hóa
của thế giới
(
lc
AL /
)/(
*
w
*
/
l
AL
)
Tại sao đường cầu lại có hình dáng như vậy ?
Chúng ta đã chứng minh ở trên là nội địa sẽ chuyện môn hoá sản xuất
rượu vang nếu
lwlcwc
AAPP // <
và nước ngoài cũng chuyên môn hoá sản
xuất rượu vang nếu
*
w
*
//
lLCwc
AAPP <
, Mặt khác
*
w
*
w
//
llcllc
AAAA <
. Vậy
nếu giá tương đối thấp hơn mức
w
/
llc
AA
thì các nước đều tập trung vào
sản xuất rượu vang mà không sản xuất pho mát. Khi
lwlcwc
AAPP // =
thu
nhập của công nhân trong hai ngành sản xuất là ngang nhau nên ở mức
giá tương đối đó nội địa sẵn sàng cung cấp bất kỳ lượng tương đối nào
Giá tương đối
sản lượng rượu vang/sản
lượng pho mát
w
/
llc
AA
*
w
*
/
llc
AA
S
D
về hai loại hàng hoá, điều này tạo ra phần nằm ngang của đường cung.
Khi
*
w
*
w
///
lLCwcllc
AAPPAA <<
thì nội địa chuyên môn hoá sản xuất pho
mát và nước ngoài chuyên môn hoá sản xuất rượu vang, sản lương pho
mát trong nước là
lc
AL /
kg, sản lượng rượu vang của nước ngoài là
*
w
*
/
l
AL
. Vậy sản lượng tương đối của thế giới là (
lc
AL /
)/(
*
w
*
/
l
AL
)
Ở mức giá
*
w
*
//
lLCwc
AAPP >
nước ngoài sẵn sàng cung cấp bất kỳ
lượng tương đối nào cả hai loại hàng hoá, do vậy ta có một phần nằm
ngang tiếp theo của đường cung.
Giá tương đối và lượng tương đối cân bằng được xác định là điểm
giao nhau của hai đường D và S.
1.2.2.3. Lợi ích thu được từ thương mại quốc tế
Nếu không có thương mại quốc tế nội địa phải sản xuất rượu vang trực
tiếp, nhưng buôn bán với nước ngoài cho phép nội địa sản xuất rượu
vang thông qua việc sản xuất pho mát và sau đó đổi pho mát lấy rượu
vang. Và cách sản xuất gián tiếp này thì hiệu quả hơn. Nội địa có thể
dùng một giờ công lao động để sản xuất ra 1/
wl
A
lít rượu vang. Hay
dùng một giờ đó để sản xuất ra 1/
lc
A
kg pho mat đem đổi lấy rượu vang
với giá tương đối là
wc
PP /
khi đó lượng rượu vang đổi được là (
wc
PP /
)
(1/
lc
A
). Số rượu vang này nhiều hơn số rượu vang được sản xuất trong
nước khi nào mà
(
wc
PP /
)(1/
lc
A
) > 1/
wl
A
Hay
lwlcwc
AAPP // >
Điều này cho thấy, trong trạng thái cân bằng quốc tế, nếu mỗi nước chỉ
chuyên môn hóa sản xuất vào một loại hàng hóa khi giá tương đối lớn
hơn chi phí cơ hội hay lớn hơn yêu cầu tương đối về lao động trên một
đơn vị hàng hóa.
Như vậy Nội địa sẽ có lợi hơn khi chỉ chuyên môn hóa vào sản xuât
pho mát rồi đem đổi rượu vang lấy pho mát thay vì tự sản xuất rượu
vang. Điều ngược lại với nước ngoài là chỉ chuyên môn hoá sản xuất
rượu vang.
Như vậy, theo Ricardo thì thương mại quốc tế mang lại lợi ích cho cả
hai bên tham gia
1.2.3. Mô hình H-O-S
Nếu lao động là yếu tố sản xuất duy nhất, như mô hình Ricardo giả
thiết, và lợi thế so sánh có thể tồn tại chỉ vì sự khác biệt quốc tế về năng
xuất lao động. Tuy nhiên, trong thế giới thực thương mại quốc tế phần
nào phản ánh sự khác biệt về nguồn lực giữa các nước. Một cách nhìn
hiện thực về thương mại quốc tế phải tính đến tầm quan trọng không chỉ
của lao động mà cả của các yếu tố sản xuất khác như đất đai vốn tài
nguyên khoáng sản.
Khẳng định thương mại quốc tế được đẩy mạnh phần lớn là do khác
biệt về nguồn lực giữa các nước là một trong những luận thuyết có ảnh
hưởng nhất của kinh tế học quốc tế. Lý thuyết do hai nhà kinh tế học
Thụy điển Eli Hecks và Bertil Ohlin do đó nó thường được gọi là lý
thuyết Heckscher-Ohlin. Và lý thuyết này tiếp tục được phát triển bởi
Samuelson
Những giả thiết của mô hình :
- Có hai quốc gia như ta gọi ở mô hình Ricardo là nội địa và nước
ngoài, với hai nhân tố sản xuất là lao động(L) và vốn (K), và hai loại
hàng hóa X và Y
- Sử dụng kỹ thuật như nhau trong sản xuất. Giả thiết này nhằm thoả
mãn cách giải thích rằng nếu giá cả các nhân tố là như nhau, người sản
xuất trong cả hai quốc gia có thể sử dụng lượng vốn và lao động như
nhau trong việc sản xuất mỗi hàng hoá. Nhưng giá cả nhân tố khác nhau
thì người sản xuất trong mỗi quốc gia sẽ sử dụng nhiều yếu tố có giá
thấp tại quốc gia để tối thiểu hoá chi phí sản xuất.
- Với hai loại hàng hóa, một loại chứa nhiều lao động, một loại chứa
nhiều vốn. Nghĩa là hàng hóa X trong quá trình sản xuất đòi hỏi nhiều
vốn hơn hàng hóa Y trong cả hai quốc gia
- Sản xuất với nền sản xuất có doanh thu cố định theo quy mô. Khi tăng
lao động và vốn sử dụng để sản xuất hàng hóa sẽ làm tăng sản lượng
theo cùng một tỷ lệ (gợi ý vê dạng hàm sản xuất C-D hay CES)
- Chuyên môn hóa sản xuất không hoàn toàn ở cả hai quốc gia. Nghĩa
là, thậm chí với thương mại tự do, hai quốc gia tiếp tục sản xuất cả hai
loại hàng hoá. Điều này cũng có nghĩa là hai quốc gia không quá nhỏ.
- Sở thích và thị hiếu là hoàn toàn ngang nhau ở cả hai quốc gia. Ngụ ý
ở đây là hình dáng và vị trí các đường bàng quan xã hội là giống nhau
giữa hai quốc gia. Do đó khi giá tương đối của hàng hoá(tỷ lệ giá hàng
hoá này so với hàng hoá kia) là như nhau giữa hai quốc gia thì hai quốc
gia sẽ tiêu dùng tỷ lệ hàng hoá X và Y như nhau
- Cạnh tranh hoàn hảo trong thị trường hàng hóa và thị trường nhân tố
sản xuất trong cả hai quốc gia. Ý nghĩa của giả thiết là: người sản xuất
với quy mô nhỏ không có khả năng chi phối mức giá, cũng như thế đối
với người sản xuất và cung ứng lao động. trong thị trường cạnh tranh
hoàn hảo thì P=MC, tức là giá cả thì bằng chi phí biên, có thông tin đầy
đủ cho cả người mua và người bán
- Chuyển dịch nhân tố là hoàn toàn trong các quốc gia, nhưng không
chuyển dịch giữa các quốc gia. Nghĩa là, lao động và vốn được chuyển
dịch tự do và nhanh chóng từ các vùng và các ngành công nghiệp có thu
nhập thấp tới những vùng và ngành công nghiệp có thu nhập cao tới khi
thu nhập cho cùng một loại vốn và lao động là như nhau trong tất cả các
vùng và nơi sử dụng lao động và các ngành công nghiệp quốc gia. Mặt
khác sự dịch chuyển các nhân tố quốc tế bằng không, vì vậy sự khác
nhau quốc tế về thu nhập nhân tố tiếp tục không có giới han khi không
có thương mại
- Không có chi phí vận tải, thuế quan và các trở ngại thương mại khác.
Giả thiết này tạo cho quá trình chuyên môn hóa trong sản xuất diễn ra
đến khi giá cả tương đối của hàng hoá là cân bằng nhau giữa hai quốc
gia khi có thương mại. Nếu có chi phí vận tải hay các trở ngại thương
mại, chuyên môn hóa sẽ diễn ra đến khi giá cả tương đối giữa hai quốc
gia chênh lệch bằng phần chênh lệch do chi phí vận tải và thương mại
tạo nên.
- Các nguồn lực được sử dụng đầy đủ trong hai quốc gia
- Thuơng mại quốc tế giữa hai quốc gia là cân bằng
Từ những giả thiết trên thì mô hình H-O được xây dựng
1.2.3.1. Xây dựng mô hình
Xem xét hai nền kinh tế Nội địa và nước ngoài, cũng với hai loại
hàng hoá là pho mát và rượu vang như đã xét ở mô hình Ricardo, có hai
nhân tố sản xuất là lao động(L) và vốn(T). Giả sử ở nội địa pho mát cần
nhiều lao động hơn rượu vang điều đó có nghĩa nó đòi hói tập trung sản
xuất nhiều lao động hơn, tỷ lệ lao động trên vốn cao hơn so với rượu
vang.
Ta quy định các ký hiệu như sau:
lc
A
là số giờ lao động để sản xuất ra môt kg pho mát
kc
A
là số đơn vị vốn cần thiết để sản xuất ra một kg pho mat
wl
A
là sô giờ lao động cần thiết để sản xuất ra một lit rượu vang
wk
A
là số đơn vị vốn cần thiết để sản xuất ra một lit
gọi L là nguồn cung về lao động
K là nguồn cung về vốn
Giả thiết cho việc sản xuất pho mát cần tập trung nhiều lao động hơn ta
có
lc
A
/
wl
A
>
kc
A
/
wk
A
Khả năng sản xuất:
Nếu nội địa sản xuất được Qc kg pho mát và Qw lít rượu . Khi đó nó
phải sử dụng
lc
A
Qc +
wl
A
Qw giờ công lao động để sản xuất các hàng
hoá này, và số lượng đó không thể vựơt quá tổng lực lượng lao động L.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét