Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Tổ chức hạch toán nguyên vật liệu tại công ty TNHH Đầu tư Xây dựng và Thương mại An Thái

tế xuất kho.
-Kiểm tra tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch về mua
nguyên vật liệu, kế hoạch sử dụng nguyên vật liệu.
-Tổ chức kế toán phù hợp với phương pháp kế toán hàng tồn
kho. Cung cấp thông tin cho việc lập báo cáo tài chính và phân tích
hoạt động và sản xuất kinh doanh
II- PHÂN LOẠI VÀ ĐÁNH GIÁ NGUYÊN VẬT LIỆU
1- Phân loại:
Nguyên vật liệu được sử dụng trong các doanh nghiệp thường có
nhiều loại, có vai trò và công dụng khác nhau. Trong quá trình sản
xuất kinh doanh chúng thường biến động tăng giảm liên tục, trước
điều kiện đó, đòi hỏi các doanh nghiệp phải phân loại vật liệu theo
từng loại, từng nhóm, từng danh mục, nhằm thống nhất tên gọi, ký-
mã hiệu, quy cách, đơn vị tính và giá hạch toán thì mới tổ chức tốt
việc quản lý doanh nghiệp. Do đó việc phân loại nguyên vật liệu có
thể dựa trên nhiều tiêu thức khác nhau.
1.1- Theo vai trò công dụng của nguyên vật liệu trong sản xuất.
Cách phân loại này dựa vào vai trò của nguyên vật liệu trong
quá trình sản xuất kinh doanh để sắp xếp nguyên vật liệu theo những
nhóm nhất định . Theo đặc trưng này nguyên vật liệu được chia
thành các loại khác sau:
- Nguyên vật liệu chính: Là loại nguyên vật liệu sau quá trình
gia công, chế biến, cấu thành hình thái vật chất của sản phẩm .
- Nguyên vật liệu phụ : Là loại vật liệu chỉ có tác dụng phụ trợ
trong sản xuất , được sử dụng kết hợp với vật liệu chính để hoàn
- PAGE 2 -
thiện va nâng cao tính năng chất lượng của sản phẩm, để đảm bảo
cho công cụ lao động dược hoạt động bình thường, hoặc được sử
dụng để đảm bảo cho nhu cầu kỹ thuật, quản lý (keo hồ, giẻ lau, xà
phòng, dầu nhờn )
- Nhiên liệu : là những thứ dùng để cung cấp nhiệt lượng trong
quá trình sản xuất kinh doanh như than, xăng dầu, hơi đốt , khí đốt
- Phụ tùng thay thế : Là loại vật tư dùng để thay thế, sửa chữa
máy móc, thiết bị, phương tiện vạn tải sản xuất. Phụ tùng thay thế do
doanh nghiệp bỏ tiền mua để dự trữ.
- Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản : Bao gồm các vật liệu và
thiết bị ( Cần lấp, không cần lắp, vật kết cấu, công cụ, khí cụ ) mà
doanh nghiệp mua vào nhằm mục đích đầu tư cho xây dựng cơ bản .
- Phế liệu thu hồi : là các loại vật liệu thu được trong quá trình
sản xuất hay thanh ly tài sản , có thể sử dụng hay bán ra ngoài ( Đá
Vụn, Bột Đá )
- Vật liệu khác : bao gồm các loại vật liệu còn lại ngoài các thứ
chưa kể trên như Ke móc, Bút xoá,Đĩa Cắt, các loại vật tư đặc
chủng
Việc phân loại như trên có ưu điểm là giúp người quản lý thấy rõ
vai trò và tác dụng của từng loại vật liệu trong quá trình sản xuất
kinh doanh. Qua đó đưa ra quyết định về quản lý và hạch toán từng
loại nhằm nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng nguyên vật liệu .
Tuy nhiên cách phân loại này còn bộc lộ một số nhược điểm : Nhiều
khi rất khó phân loại ở một doanh nghiệp , có lúc nguyên vật liệu
chính được sử dụng như nguyên vật liệu phụ.
- PAGE 2 -
1.2- Phân loại theo nguồn hình thành
- Nguyên vật liệu mua ngoài
- Nguyên vật liệu tự sản xuất : L
- Nguyên vật liệu thuê ngoài gia công , chế biến :
- Nguyên vật liệu nhận góp vốn liên doanh,liên kết hoặc tự biếu
tặng, cấp phát:
1.3- Phân loại theo quyền sở hữu :
- Nguyên vật liệu tự có
- Nguyên vật liệu nhận gia công chế biến hay giữ hộ
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp có thể theo dõi , nắm bắt
được tình hìng hiện có của nguyên vật liệu để từ đó lên kế hoạch thu
mua, dự trữ nguyên vật liệu phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp .
Để quản lý và hạch toán tốt nguyên vật liệu , kết hợp với các
cách phân loại trên thì doanh nghiệp phải lập “ Sổ danh điểm nguyên
vật liệu “ . Sổ này dùng để thống nhất tên gọi , quy cách , phẩm
chất , đơn vị tính , cách ghi mã số , đơn giá thanh toán của nguyên
vật liệu .
2- Đánh giá vật liệu và phương pháp tính giá
2.1 - Đánh giá vật liệu
Đánh giá nguyên vật liệu là dùng thước đo tiền tệ để biểu hiện
giá trị của nguyên vật liệu theo những nguyên tắc nhất định
Nguyên tắc cơ bản là nguyên vật liệu phải được đánh giá theo
giá thực tế ( Bao gồm giá mua + chi phí thu mua )
- PAGE 2 -
Do nguyên vật liệu có nhiều loại, thường xuyên tăng, giảm trong
quá trình sản xuất kinh doanh và yêu cầu của công tác kế toán là
nguyên vật liệu phải được phản ánh kịp thời, chính xác tình hình
biến động và số hiện có của nguyên vật liệu. Vì vậy công tác hạch
toán nguyên vật liệu còn được đánh giá theo giá hạch toán.
2.2- Các phương pháp tính giá nguyên vật liệu
2.2.1- Giá trị thực tế của vật liệu nhập kho.
a ) Với vật liệu mua ngoài
Giá thực Giá mua Chi phí Thuế nhập Cáckhoản
tế VL = (ghi trên + thu + khẩu - giảm
mua ngoài hoá đơn) mua (nếu có) trừ
b)Với vật liệu thuê ngoài gia công chế biến.
Giá thực Giá vật chi phí chi phí
tế nguyên = liệu xuất + thuê ngoài + vận chuyển
vật liệu chế biến gia công bốc xếp
c)Với vật liệu tự sản xuất: Tính theo giá thành sản xuất thực tế.
Giá thực tế giá thực tế vật liệu Chi phí trong quá
Nguyên vật liệu = xuất để sản xuất + trình sản xuất
d) Với vật liêu nhận đóng góp từ các đơn vị, tổ chức cá nhân tham
gia liên doanh.
Giá thực tế của nguyên vật liệu là giá thoả thuận do các bên xác
định cộng (+) với các chi phí tiếp nhận (nếu có).
- PAGE 2 -
e) Với phế liệu.
Giá thực tế là giá ước tính có thể sử dựng được hay giá thu hồi
tối thiểu.
f) Với vật liệu được tặng thưởng.
Giá thực tế tính theo giá thị trường tương đương cộng (+) chi
phí liên quan tới việc tiếp nhận.
2.2.2 - Giá trị vật liệu xuất kho.
Nguyên tắc cơ bản là nhập kho theo giá nào thì xuất kho theo
giá cả đó. Nhưng thực tế do nguyên vật liệu có nhiều loại, nhiều thứ
và thời gian nhập kho khác nhau cho nên phải áp dụng phương pháp
tính giá trị chung cho nguyên vật liệu tuỳ theo đặc điểm của từng
doanh nghiệp vào yêu cầu quản lý và trình độ nghiệp vụ của cán bộ
kế toán. Có thể áp dụng một trong các phương pháp sau theo nguyên
tắc nhất quán trong hạch toán.Nừu có thay đổi phải giải thích rõ
ràng.
a) Phương pháp giá đơn vị bình quân.
Theo phương pháp này, giá thực tế vật liệu xuất dùng trong kỳ
được tính theo công thức:
Giá thực tế Số lượng vật giá đơn vị
xuất dùng liệu suất dùng bình quân
Trong đó giá đơn vị bình quân có thể tính theo một trong ba
dạng sau:
- PAGE 2 -
= x
Dạng 1 : Giá đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ.
Giá đơn Giá thực tế vật liệu Giá thực tế vật liệu
vị bình tồn đầu kỳ + nhập trong kỳ
quân =
cả kỳ Số lượng vật liệu + Số lượng vật liệu
dự trữ tồn kho đầu kỳ nhập trong kỳ
Dạng 2 : Giá đơn vị bình quân cuối kỳ trước
Giá đơn vị Giá thực tế vật liệu tồn kho đầu kỳ
binh quân (hoặc cuối kỳ trước )
cuối kỳ Lượng thực tế vật liệu tồn kho đầu kỳ
trước (hoặc cuối kỳ trước )
Dạng 3 : Giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập
Giá đơn vị Giá thực tế vật liệu
bình quân tồn kho sau mỗi lần
sau mỗi =
lần nhập Lượng thực tế vật liệu tồn kho
sau mỗi lần nhập
b) Phương pháp nhập trước, xuất trước (Fifo)
Phương pháp này giả thiết rằng số vật liệu nào nhập trước thì
xuất trước, xuất hết số nhập trước mới đến số nhập sau theo giá thực
tế của từng số hàng xuất. Nói cách khác cơ sở của phương pháp này
- PAGE 2 -
=
là giá thực tế của vật liệu mua trước sẽ dùng làm giá để tính thực tế
vật liệu xuất trước và do vậy giá tự vật liệu tồn kho cuối kỳ sẽ là giá
thực tế của số vật liệu mua vào sau cùng.
Phương pháp này thích hợp trong trường hợp giá cố định hoặc
có xu hướng giảm
c) Phương pháp nhập sau, xuất trước (Lifo)
Phương pháp này giả định những vật liệu mua sau cũng sẽ được
xuất trước tiên, ngược lại với phương pháp nhập trước, xuất trước ở
trên.
Phương pháp nhập sau, xuất trước thích hợp trong trường hợp
lạm phát.
d) Phương pháp trực tiếp
Theo phương pháp này, vật liệu dược xác định giá trị theo đơn
chiếc hay từng lô và giữ nguyên từ lúc nhập vào cho đến lúc xuất
dùng (trừ trường hợp điều chỉnh). Khi xuất vật liệu nào sẽ tính theo
giá thực tế của vật liệu đó. Do vậy, phương pháp này còn có tên gọi
là phương pháp đặc điểm riêng hay phương pháp giá thực tế đích
danh và thường sử dụng với các loại vật liệu có giá trị cao và có tính
tách biệt.
e) Phương pháp giá hạch toán
Theo phương pháp này toàn bộ vật liệu biến động trong kỳ được
tính theo giá hạch toán (giá kế hoạch hoặc một loại giá ổn định
trong kỳ ). Cuối kỳ kế toán sẽ tiến hành điều chỉnh từ giá hạch toán
sang giá thực tế theo công thức:
Giá thực tế của vật liệu Giá hạch toán của vật Hệ số giá
- PAGE 2 -
xuất dùng trong kỳ = liệu xuất dùng trong kỳ * vật liệu
(hoặc tồn kho cuối kỳ) (hoặc tồn kho cuối kỳ)
Hệ số giá có thể tính cho từng loại, từng nhóm hoặc từng thứ vật
liệu, chủ yếu tuỳ thuộc vào yêu cầu và trình độ quản lý.
Hệ số Giá thực tế của vật Giá thực tế vật liệu
giá vật liệu tồn đầu kỳ nhập trong kỳ
liệu Giá hạch toán của Giá hạch toán của
Vật liệu tồn đầu kỳ vật liệu nhập trong kỳ
III. HẠCH TOÁN CHI TIẾT NGUYÊN VẬT LIỆU.
1- Chứng từ : Vừa là phương tiện chứng minh tính hợp của nghiệp
vụ kinh tế, vừa là phương tiện thông tin về kết quả nghiệp vụ kinh tế
đó. Các chứng từ được sử dụng trong kế toán nguyên vật liệu ở
doanh nghiệp thường bao gồm:
* Chứng từ nhập :
Hợp đồng mua hàng, phiếu đặt hàng.
Hoá đơn mua hàng (Mẫu số 01 - 3LL)
Biên bản kiểm nghiệm (Mẫu số 05 - BT)
Phiếu nhập kho (Mẫu số 01 - VT)
Biên bản kiểm kê vật tư thừa ( Mẫu số 08 - VT)
* Chứng từ xuất :
Phiếu xuất kho (Mẫu số 02 - VT)
Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ (Mẫu số 03 - VT)
Biên bản kiểm nghiệm vật tư thiếu (Mẫu số 08 - VT)
- PAGE 2 -
=
+
+
2- Quá trình hạch toán ban đầu.
- PAGE 2 -
2.1- Nhập kho nguyên vật liệu
* Nhập kho nguyên vật liệu mua ngoài.
Căn cứ vào hợp đồng kinh tế, doanh nghiệp ký kết với nhà cung
cấp. Khi nguyên vật liệu về đến doanh nghiệp, lập ban kiểm nghiệm
vật tư để kiểm tra số lượng, chất lượng, mẫu mã, quy cách của vật tư
và lập biên bản kiểm nghiệm. Trên cơ sở hoá đơn, biên bản kiểm
nghiệm, phòng kế hoạch( phòng vật tư) lập thành 03 liên phiếu nhập
kho, đặt giấy than viết một lần. Sau đó người lập phiếu ký và chuyển
cho người phụ trách hoặc thủ trưởng đơn vị ký. Người giao hàng ký
vào phiếu nhập kho, thủ kho căn cứ vào số lượng hàng thực tế nhập
kho ghi vào cột thực nhập và ký phiếu nhập kho.
Ba liên phiếu nhập kho được luân chuyển như sau:
Liên 1: Lưu lại quyển gốc.
Liên 2: Giao cho người nhập kho.
Liên 3: Lưu chuyển để ghi thủ kho và số kế toán.
Cuối ngày hoặc định kỳ 3-5 ngày, thủ kho tập hợp phiếu nhập
kho chuyển cho bộ phận kế toán, ( kế toán nguyên vật liệu ) ghi đơn
giá và ghi số kế toán ( số chi tiết nguyên vật liệu ). Sau đó kế toán
bảo quản và lưu giữ phiếu nhập kho:
* Nhập kho nguyên vật liệu thuê ngoài gia công, chế biến trên
cơ sở chứng từ giao hàng của đơn vị nhận gia công chế biến vật liệu,
phòng kế hoạch lập phiếu nhập kho. Người nhập mang phiếu nhập
kho xuống kho giao hàng, thủ kho làm thủ tục nhập kho, ghi số thực
nhập vào phiếu nhập kho, vào thủ kho. Sau đó chuyển cho phòng kế
toán.
- PAGE 2 -

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét