Chuyên đề tốt nghiệp
Bảng tổng kết tài sản của NHTM
Tài sản
( Tính lỏng giảm dần)
Nguồn vốn
- Dự trữ
- Các chứng khoán
- Cho vay
- Tài sản khác
- Tiền gửi
- Tiền vay
- Vốn của ngân hàng
- Nguồn vốn khác
2.1- Các hoạt động trong bảng tổng kết tài sản:
Bảng tổng kết tài sản của NHTM phản ánh ba lĩnh vực nghiệp vụ cơ bản là:
Huy động vốn, Sử dụng vốn và Nghiệp vụ môi giới trung gian.
2.1.1- Huy động vốn
Đây là nghiệp vụ khởi đầu, tạo điều kiện cho mọi hoạt động của NHTM.
Khi một NHTM cần vốn cho hoạt động kinh doanh của mình thì có thể huy
động ở một số nguồn chính nh : Nguồn từ chủ sở hữu, Nguồn tiền gửi, Nguồn
vay mợn và một số nguồn khác.
* Huy động từ chủ sở hữu:
Về khía cạnh kinh tế, vốn chủ sở hữu là vốn riêng có của NHTM do các chủ
sở hữu đóng góp và các quỹ của ngân hàng đợc hình thành trong quá trình kinh
doanh đợc thể hiện ở dạng lợi nhuận để lại. Nguồn vốn này có tính ổn định cao,
NHTM không phải hoàn lại. Nó có vai trò quan trọng trong việc tài trợ cho các
hoạt động mở rộng quy mô của các NHTM ( liên doanh, liên kết, mở rộng mạng
lới, ). Các NHTM thờng huy động nguồn này thông qua nghiệp vụ phát hành
cổ phiếu, trái phiếu đợc chuyển đổi thành cổ phiếu, nhận vốn cấp phát của
Ngân sách Nhà nớc, Nhìn chung việc huy động dới hình thức nào là do tính
chất sở hữu của NHTM quyết định.
Chuyên đề tốt nghiệp
* Huy động từ tiền gửi:
Nguồn vốn từ chủ sở hữu thờng có tỷ lệ nhỏ so với số tiền mà NHTM sử
dụng trong hoạt động kinh doanh. Vì vậy phần lớn là NHTM phải huy động từ
nguồn tiền gửi. Đặc điểm cơ bản của nguồn vốn này là NHTM chỉ đợc quyền
sử dụng nó trong một thời gian nhất định còn quyền sở hữu nó thuộc về những
ngời gửi tiền. Dựa vào tính khả dụng của vốn thì NHTM có thể huy động dới
các hình thức sau:
-Tiền gửi không kỳ hạn: Là loại tiền gửi hoàn toàn theo mục đích khả dụng.
Mục đích của khách là muốn sử dụng các tiện ích của NHTM cung ứng. NHTM
có nhiệm vụ phải chi trả bất cứ lúc nào mà khách hàng yêu cầu.
- Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi có sự tham thoả thuận về thời gian rút
tiền giữa khách hàng và ngân hàng. Trong thời gian này ngân hàng có quyền chủ
động sử dụng tiền do khách hàng ký gửi. Nếu khách hàng muốn rút tiền trớc
hạn phải đợc sự đồng ý của ngân hàng.
- Tiền gửi tiết kiệm: Đây là một bộ phận thu thập bằng tiền của các cá nhân
tạm thời nhàn rỗi đợc gửi vào NHTM dới nhiều hình thức: Tiết kiệm không kỳ
hạn, tiết kiệm có kỳ hạn, tiết kiệm mua nhà, Với mục đích chủ yếu là tiết kiệm
và sinh lời.
* Nguồn vay mợn:
Sau khi đã sử dụng hết vốn, nhng vẫn cha đáp ứng đợc nhu cầu cho vay
vốn của khách hàng hoặc phải đáp ứng nhu cầu thanh toán và chi trả của khách
hàng, các NHTM có thể sử dụng nghiệp vụ đi vay ở Ngân hàng trung ơng, ở
các NHTM khác, vay ở thị trờng tiền tệ, vay các tổ chức nớc ngoài, Vốn đi
vay thông thờng chiếm tỷ trọng không lớn trong kết cấu nguồn vốn. Tuy nhiên,
nó rất cần thiết và có vị trí quan trọng để đảm bảo cho Ngân hàng hoạt động kinh
doanh một cách bình thờng.
Chuyên đề tốt nghiệp
* Huy động từ các nguồn khác: Ngoài một số nguồn cơ bản trên thì NHTM
có thể huy động vốn thông qua nghiệp vụ Ngân hàng đại lý, Ngân hàng phục
vụ, uy tín của NHTM là cơ sở quan trọng để mở rộng nguồn vốn này.
2.1.2 Sử dụng vốn:
Huy động đợc vốn nhàn rỗi, NHTM phải cân nhắc để hiệu quả hoá những
nguồn vốn huy động đợc. Với mục tiêu chủ yếu là an toàn và sinh lời, hoạt
động sử dụng vốn của NHTM tập trung ở ba nghiệp vụ chính: Dự trữ, Cho vay và
Đầu t.
* Dự trữ:
Sự trữ là nghiệp vụ nhằm duy trì khả năng thanh toán của ngân hàng để đáp
ứng nhu cầu chi trả cho khách hàng. NHTM phải duy trì một bộ phận vốn ( bằng
tiền mặt) để thực hiện nghiệp vụ dự trữ. Mức dự trữ này cao hay thấp tuỳ thuộc
vào qui mô hoạt động của NHTM, mối quan hệ thanh toán và chuyển khoản, thời
vụ của các khoản chi trả tiền mặt.
Tiền dự trữ bao gồm: Dự trữ bắt buộc và dự trữ thặng d. Chúng đợc
hình thành bởi các nguồn: Tiền mặt tại két của NHTM, Tiền gửi tại Ngân hàng
trung ơng, Tiền gửi ở các tổ chức tín dụng, Tiền đang trong quá trình thu.
* Cho vay:
Cho vay là nghiệp vụ chủ yếu của NHTM để tạo ra lợi nhuận. Nguồn thu từ
hoạt động cho vay thờng chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng thu nhập của ngân
hàng. Tuy nhhiên, nó cũng là lĩnh vực có nhiều rủi ro và phức tạp nhất.Rủi ro tín
dụng có thể do ý muốn chủ quan của ngân hàng nh : Xây dựng chiến lợc sai,
Thẩm định hồ sơ không chính xác, Cho vay không tuân theo nguyên tắc, cũng
có thể do nguyên nhân khách quan nh: Hoả hoạn, lũ lụt, Hoạt động cho vay
liên quan chặt chẽ với tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế từ tiêu dùng đến sản
xuất kinh doanh. Do vậy, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nghiệp vụ cho
vay ngày càng đa dạng nhằm thoả mãn nhu cầu về vốn cho nền kinh tế, tạo điều
kiện tăng lợi nhuận cho ngân hàng. Các hình thức cho vay chủ yếu nh: Cho vay
ngắn hạn, Cho vay trung và dài hạn, Cho vay có đảm bảo,
Chuyên đề tốt nghiệp
* Đầu t:
Hoạt động này bao gồm đầu t chứng khoán và các hoạt động đầu t
khác:
- Đầu t chứng khoán: Nghiệp vụ này mang lại cho NHTM một khoản lợi
nhuận tơng đối lớn ( sau cho vay). Trong trờng hợp cha tìm ra khách hàng
đáng tin cậy để cho vay thì đầu t chứng khoán là nơi giải quyết vốn một cách
hữu hiệu nhất cho NHTM. Tuy nhiên, nó cũng chứa nhiều rủi ro. Vì vậy NHTM
cần phân tích kỹ lỡng trớc khi lựa chọn loại chứng khoán nào để đầu t.
- Ngoài ra, NHTM có thể đầu t nhằm mục đích sinh lợi bằng nhiều hình
thức khác nh góp vốn liên doanh, đầu t vào trang thiết bị,
2.1.3-Hoạt động môi giới trung gian
Nền kinh tế càng phát triển, các dịch vụ Ngân hàng theo đó cũng phát triển
theo để đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng của công chúng. Thực hiện các hoạt
động trung gian mang tính dịch vụ sẽ đem lại cho các NHTM những khoản thu
nhập khá quan trọng. Điều cần lu ý là các dịch vụ Ngân hàng sẽ giúp NHTM
phát triển toàn diện. ở các nớc phát triển, các NHTM cạnh tranh với nhau bằng
con đờng phi giá, tức là luôn có những dịch vụ mới cung cấp tiện nghi cho
khách hàng. Dịch vụ Ngân hàng càng phát triển thể hiện xã hội công bằng văn
minh, nền công nghiệp càng phát triển. Lợi nhuận của NHTM không chỉ ở đầu
t, cho vay, mà gần phần nửa ở các dịch vụ, nhng lại là lĩnh vực ít rủi ro.
Nghiệp vụ trung gian của NHTM rất đa dạng và phong phú nh : Dịch vụ
chuyển tiền từ địa phơng này sang địa phơng khác, Dịch vụ chuyển khoản,
Dịch vụ khấu trừ tự động, Thu chi hộ, Qua đó NHTM sẽ thu đợc một khoản
phí dịch vụ.
Chuyên đề tốt nghiệp
2.2- Các hoạt động ngoài bảng tổng kết tài sản:
Ngoài các giao dịch đợc phản ánh trong nội bảng ( huy động vốn, sử dụng
vốn, môi giới trung gian), các NHTM còn tham gia vào hoạt động cha đợc
thừa nhận là tài sản nợ hoặc tài sản có. Các hoạt động này hiện đang đợc theo
dõi ở các tài khoản ngoại bảng. Một số hoạt động ngoại bảng chủ yếu nh: Bảo
lãnh công nợ, các hợp đồng có liên quan đến lãi suất, các giao dịch về hối đoái
nh giao dịch Swaps, Options, Futrues, các chứng từ có giá, Mặc dù sự biến
động của các giao dịch ngoại bảng không làm thay đổi kết cấu, cân số của bảng
tổng kết tài sản, nhng vì nó cũng là một hiện tợng kinh tế phát sinh trong quá
tình kinh doanh nên độ rủi ro của nó cũng tác động mạnh mẽ đến độ an toàn của
NHTM.
Do đó, khi phân tích hoạt động của NHTM, bên cạnh việc nghiên cứu các
hoạt động bảng tổng kết tài sản, các nhà quản trị cần phải quan tâm đến mức độ
và diễn biến các hoạt động ngoại bảng vì độ rủi ro của các hoạt động này cũng
làm ảnh hởng không ít đến kết quả kinh doanh chung của NHTM.
Tóm lại, hoạt động của NHTM luôn gắn liền với nền kinh tế, nền kinh tế
càng phát triển cao, hoạt động của NHTM càng đa dạng và phong phú. Hơn nữa,
các hoạt động của NHTM có mối quan hệ rất chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau, tạo thành
một chỉnh thể thống nhất trong quá trình hoạt động kinh doanh của NHTM.
II- các hình thức huy động vốn của Ngân hàng Thơng mại
Vốn vừa mang tính chất tiền đề vừa là vấn đề xuyên suất cho quá tình hình
thành và phát triển của NHTM. Mục tiêu tổng quát của NHTM là an toàn và sinh
lời trong kinh doanh. Do đó, việc tạo lập một nguồn vốn vững chắc, đảm bảo cho
sự phát triển bền vững của ngân hàng là điều rất cần thiết. Mỗi Ngân hàng hoạt
động trong một môi trờng, điều kiện cụ thể sẽ có các nghiệp vụ huy động vốn n
khác nhau. Song nhìn chung các NHTM thờng áp dụng một số nghiệp vụ cơ
bản sau:
Chuyên đề tốt nghiệp
1- Huy động từ chủ sở hữu:
Nguồn huy động từ chủ sở hữu thông thờng gồm vốn tự có và một số quỹ
mang tính chất đặc thù của mỗi quốc gia ( nh Quỹ đầu t phát triển do Chính
phủ cấp cho một số NHTM quốc doanh ở Việt Nam).
Vốn tự có của NHTM cũng đợc xem xét dới nhiều góc độ khác nhau.
Trong phạm vi bài viết này chúng ta chỉ xem xét dới các hình thức nh: Vốn
pháp định, vốn điều lệ và các quỹ.
Vốn pháp định: Điều kiện hàng đầu để khởi nghiệp trớc khi đợc phép
khai trơng Ngân hàng là phải có đủ vốn ban đầu theo luật định.
ở
Việt Nam, để
thành lập một NHTM trớc hết phải có đủ vốn pháp định theo mức quy định của
NHNN. Vốn pháp định của mỗi ngân hàng đợc hình thành do tính chất sở hữu
của ngân hàng quyết định. Theo quy định của Việt Nam có thể khái quát nh
sau: Nếu là NHTM thuộc sở hữu nhà nớc, vốn pháp định do Ngân sách Nhà
nớc cấp 100% vốn ban đầu; Nếu là NHTM cổ phần, vốn pháp định do sự đóng
góp của cổ đông dới hình thức phát hành cổ phiếu; Nếu là NHTM liên doanh,
vốn pháp định là vốn đóng góp cổ phần của ngân hàng tham gia liên doanh.
Vốn điều lệ là vốn đợc ghi trong điều lệ hoạt động của NHTM. Vốn điều
lệ ít nhất phải bằng mức vốn pháp định do NHNN công bố vào đầu mỗi năm tài
chính. Vốn điều lệ quy định cho một ngân hàng nhiều hay ít tuỳ thuộc vào quy
mô và phạm vi hoạt động của ngân hàng đó ( vốn điều lệ bao hàm cả vốn pháp
định).
Ngoài ra vốn tự có củaNHTM còn có các quỹ dự trữ ngân hàng ( đây là các
quỹ buộc phải trích lập trong quá trình tồn tại và hoạt động của ngân hàng) nh:
Quỹ bảo toàn vốn, Quỹ phúc lợi, Quỹ khấu hao tài sản cố định,
Nguồn vốn tự có của NHTM thờng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn
vốn của một ngân hàng, nhng lại là nguồn vốn rất quan trọng, vì nó cho thấy
thực lực, quy mô của ngân hàng, nó là cơ sở để thu hút các nguồn vốn khác, là
vốn khởi đầu tạo uy tín của ngân hàng đối với khách hàng. Hơn nữa nguồn vốn
Chuyên đề tốt nghiệp
này có tính ổn định cao, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tài trợ cho các
tài sản cố định của NHTM, tài trợ cho hoạt động liên doanh liên kết, mở rộng
mạng lới, hay để chống rủi ro, ; Qua đó nhằm hớng tới mở rộng quy mô hoạt
động của ngân hàng.
Theo đà phát triển, nguồn vốn này sẽ đợc gia tăng về số lợng tuyệt đối
thông qua các nghiệp vụ của mỗi NHTM có thể áp dụng nh sau:
- Tăng cờng và bổ sung thêm vốn điều lệ bằng cách huy động thêm vốn từ
các cổ đông, phát hành cổ phiếu, trái phiếu có thể chuyển thành cổ phiếu, Các
nghiệp vụ huy động này thờng đợc các NHTM cổ phần áp dụng. Tuy nhiên,
việc phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu có thể chuyển đổi thành cổ phiếu sẽ gây
áp lực đối với các cổ đông cũ của ngân hàng, việc tăng thêm cổ phần sẽ kéo theo
sự suy giảm tơng đối về cổ tức đối với các cổ đông.
- Đối với NHTM quốc doanh hay NHTM liên doanh thì có thể tăng thêm
vốn tự có thông qua sự cấp thêm vốn của Chính phủ hay đóng góp thêm vốn của
các bên liên doanh.
- Ngoài ra, nguồn vốn tự có của NHTM còn đợc bổ sung thêm từ kết quả
hoạt động kinh doanh của ngân hàng thông qua việc trích lập các quỹ dự trữ và
một số quỹ khác.
Bên cạnh nguồn vốn tự có, ở một số quốc gia mà cụ thể là ở Việt Nam, một
số NHTM nh: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng
Đầu t và Phát triển Việt Nam còn đợc Chính phủ cấp vốn dới hình thức quỹ
đầu t phát triển để cho vay lại theo kế hoạch Nhà nớc chỉ định. Nguồn này có
tính ổn định tơng đối cao, trong thời gian ngắn Nhà nớc cha yêu cầu Ngân
hàng trả gốc và lãi cho khoản tiền này mà Ngân hàng chỉ phải trích lập quỹ để
bảo toàn nguồn vốn theo quy định. Uy tín và hiệu quả trong kinh doanh của
Ngân hàng chính là cơ sở để thu hút nguồn vốn ổn định này.
Tóm lại, nguồn vốn huy động từ chủ sở hữu là nguồn vốn đóng vai trò nền
tảng, là cơ sở để thu hút các nguồn vốn khác. Tuy nó chiếm một tỷ trọng không
lớn trong cơ cấu nguồn vốn của NHTM nhng có ý nghĩa quyết định tới sự hình
Chuyên đề tốt nghiệp
thành và phát triển của ngân hàng; mặc dù công tác huy động không thuận lợi,
phụ thuộc nhiều vào kết quả kinh doanh củ ngân hàng nhng việc tăng cờng mở
rộng nguồn vốn này một cách hợp lý là rất quan trọng đối với tất cả các NHTM.
2- Huy động tiền gửi
ở
Việt Nam, theo luật các tổ chức tín dụng thì tiền gửi nói chung đợc hiểu
là số tiền của khách hàng gởi taị tổ chức tín dụng dới nhiều hình thức tiền gửi
không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. gửi là.
Trên phơng diện chủ thể gửi tiền thì tiền gửi có thể đợc chia thành hai loại:
Tiền gửi của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế- xã hội, và Tiền gửi tiết kiệm
của dân c.
2.1-Tiền gửi giao dịch (tiền gửi thanh toán)
Một trong những dịch vụ lâu đời nhất mà ngân hàng cung cấp là nhận tiền
gửi để thanh toán hộ khách hàng. Tiền gửi giao dịch đòi hỏi ngân hàng phải
thanh toán ngay lập tức một lệnh rút tiền cho một cá nhân hay cho bên thứ ban,
đợc chỉ rõ là ngời thụ hởng.
* Tiền gửi giao dịch hởng lãi
Sự kết hợp giữa tiền gửi giao dịch không hởng lãi và tiền gửi tiết kiệm đã
xuất hiện dới hình thức tài khoản NOW (negoyiable order of withdrawal) tài
khoản lệnh rút tiền có thể thơng lợng. NOW là tài khoản giao dịch đợc
hởng lãi, do đó nó cho phép ngân hàng đòi hỏi khách hàng phải thông báo trớc
về việc rút tiền. Do đòi hỏi này ít đợc thực hiện nên NOW đợc sử dụng nh
một tài khoản phát séc để chi trả cho việc mua bán hàng hoá và dịch vụ. Tuy
nhiên loại tài khoản này chỉ có thể đợc nắm giữ bởi cá nhân và các tổ chức phi
lợi nhuận. Ngân hàng khi đó có nghiệp vụ là chuyển vốn tự động và khách hàng
uỷ quyền trớc cho ngân hàng trong việc chuyển vốn từ tài khoản tiết kiệm sang
tài khoản phát séc để bù đắp thấu chi. Kết quả cuối cùng là khách hàng hởng lãi
trên tài khoản giao dịch tơng đơng với lãi thu đợc từ tài khoản tiền tiết kiệm.
Chuyên đề tốt nghiệp
Hiện nay có hai loại tài khoản tiền gửi cạnh tranh nhau: Tài khoản tiền gửi
trên thị trờng tiền tệ (MMDA) và tài khoản Supper NOW. Hai loại tài khoản
này đợc trả lãi theo lãi suất trên thị trờng tiền tệ và khách hàng có thể thực
hiện thanh thoán cho các giao dịch mua hàng hoá và dịch vụ thông qua việc phát
séc hay hối phiếu uỷ quyền trớc.
2.2- Tiền gửi của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế-xã hội
Đây là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi phát sinh trong quá trình sản xuất kinh
doanh, quá trình hoạt động của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế- xã hội và
đợc các đơn vị này gửi vào ngân hàng nhằm mục đích sinh lời. Khoản vốn này
tạm thời đợc giải phóng ra khỏi quá trình luân chuyển vốn nhng cha có nhu
cầu sử dụng trong ngắn hạn.
Đây là nguồn chiếm tỷ trọng không lớn trong cơ cấu nguồn vốn cũng nh là
trong cơ cấu vốn nói chung của NHTM. Bởi lẽ trong quá trình sản xuất kinh
doanh của mình, các doanh nghiệp ít khi có một lợng vốn nhàn rỗi trong một
thời gian dài và nếu có chỉ là một lợng nhỏ mà thôi. Các tổ chức kinh tế- xã hội
có vử khả quan hơn về mặt kỳ hạn nhng lợng vốn họ có lại không đủ lớn. Tuy
vậy nguồn vốn này vẫn không thể thiếu trong cơ cấu tạo nên nguồn vốn của một
ngân hàng. Cũng nh tiền gửi có kỳ hạn nói chung, các doanh nghiệp và các tổ
chức kinh tế- xã hội khi gửi tiền vào ngân hàng cũng phải có sự thoả thuận về kỳ
hạn của khoản tiền đó.
Nh vậy về nguyên tắc, ngời gửi tiền chỉ có thể rút tiền ra theo thời hạn đã
thoả thuận. Tuy nhiên trên thực tế do quá trình cạnh tranh trong lĩnh vực hoạt
động ngân hàng ngày càng gay gắt và để thu hút nguồn này một cách tốt nhất,
các NHTM thờng cho phép khách hàng đợc rút tiền ra trớc hạn nhng không
đợc hởng lãi hoặc hởng lãi ở mức thấp hơn. Hầu hết các NHTM ở Việt Nam,
nếu khách hàng rút tiền trớc thời hạn đã thoả thuận thì chỉ đợc hởng theo lãi
suất loại tiền gửi không kỳ hạn.
NHTM có thể sử dụng nguồn này một cách chủ động hơn trong hoạt động
kinh doanh, góp phần đáp ứng nhu cầu tín dụng của nền kinh tế.
Chuyên đề tốt nghiệp
2.3- Tiền gửi tiết kiệm của khách hàng
Tiền gửi tiết kiệm là hình thức huy động truyền thống của ngân hàng.
ở
các
nớc công nghiệp phát triển, trong số các loại tiền gửi vào ngân hàng thì tiền gửi
tiết kiệm đứng vị thứ hai cả về mặt số lợng và tầm quan trọng.
Hiện nay ở hầu hết các quốc gia trên thế giới ( trong đó có Việt Nam) ngời
ta cho rằng vận động nhân dân gửi tiền tiết kiệm là một trong các nghiệp vụ quan
trọng của NHTM. Bởi lẽ nếu huy động đợc nguồn vốn nhàn rỗi tiềm tàng trong
các tầng lớp dân c sẽ có tiền cấp phát cho phát triển công nghiệp, nông nghiệp
góp phần quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội.
Các tầng lớp dân c gửi tiền tiết kiệm vào NHTM với mục đích chủ yếu là
tiết kiệm và sinh lời. Do đó, nguồn vốn này có tính ổn định khá cao.
Để tạo thuận lợi cho khách hàng cũng nh ngân hàng, thủ tục gửi tiền cũng
rất đơn giản: Khi khách hàng gửi tiền vào Ngân hàng sẽ đợc nhận một quyển sổ
tiết kiệm. Sổ này đợc coi là giấy chứng nhận số tiền, thời hạn, lãi suất của
khoản tiền đó trong quỹ tiết kiệm. Thông thờng lãi suất của tài khoản tiết kiệm
cao hơn lãi suất của tài khoản gửi thanh toán và ngời chủ tài khoản không đợc
hởng dịch vụ thanh toán quan ngân hàng nh tài khoản tiền gửi thanh toán.
Để thoả mãn nhu cầu của khách hàng trong việc gửi tiết kiệm, các NHTM
đã và đang áp dụng nhiều hình thức huy động phong phú nh: Tiết kiệm nhà ở,
tiết kiệm đảm bảo giá trị theo vàng, tiết kiệm có thởng, với nhiều kỳ hạn đa
dạng và đảm bảo nguyên tắc: Kỳ hạn càng dài thì lãi suất càn cao. Bên cạnh đó,
NHTM cũng từng bớc nâng cao các tiện ích cho ngời gửi tiết kiệm nh: Coi sổ
tiết kiệm nh là một chứng từ đảm bảo tiền gửi, ngời có sổ có thể mang sổ tiết
kiệm đến ngân hàng để cầm cố hoặc xin chiết khấu để vay vốn khi cần thiết.
Tóm lại, nguồn vốn huy động từ tiền gửi có vai trò quan trọng trong việc tài
trợ cho các hoạt động kinh doanh của NHTM. Thống thờng nguồn vốn này phụ
thuộc vào ba thông số chính: Lãi suất do các NHTM trả cao hay thấp; Lãi suất
của các loại hình đầu t khác nh: Trái phiếu, cổ phiếu, Thu nhập của khách
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét