CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỪA KẾ VÀ QUYỀN THỪA KẾ
1.1. Khái niệm về thừa kế và quyền thừa kế
Là một thực thể trong đời sống xã hội, con người không thể tồn tại và phát
triển nếu tách rời những cơ sở vật chất nhất định. Nói cách khác, con người
không thể sống và lao động khi không có tài sản để thoả mãn các nhu cầu thiết
yếu trong sinh hoạt cũng như trong sản xuất. Nếu tư liệu tiêu dùng là phương tiện
sinh hoạt, tư liệu sản xuất là phương tiện để thực hiện các hoạt động sản xuất,
kinh doanh thì tài sản nói chung là phương tiện sống của con người. Khi sống,
con người khai thác công dụng của tài sản để thoả mãn cho nhu cầu của mình,
khi chết, tài sản còn lại của họ được dịch chuyển cho người còn sống. Quá trình
dịch chuyển tài sản đó từ thế hệ này sang thế hệ khác được gọi là thừa kế.
Nhìn nhận một cách tổng quan nhất thì “thừa kế là việc dịch chuyển tài sản
của người đã chết cho người còn sống”
1
. Về mặt ngữ nghĩa thì thừa kế là thừa
hưởng một cách kế tục. Theo phương diện này, Từ điển Tiếng Việt đã định
nghĩa: “Thừa kế là hưởng của người chết để lại cho”
2
. Về mặt nội dung thì thừa
kế là quá trình dịch chuyển di sản từ người chết cho người còn sống.
Quá trình dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người còn sống được
hình thành ở bất cứ một xã hội nào và dĩ nhiên, khi chưa có Nhà nước và pháp
luật, thì nó được thực hiện theo tập tục xã hội nên được gọi là thừa kế. Khi Nhà
nước xuất hiện, bằng pháp luật, nhà nước tác động đến quá trình dịch chuyển tài
sản nói trên, trong đó, quyền để lại tài sản cũng như quyền hưởng di sản của các
chủ thể được nhà nước ghi nhận và đảm bảo thực hiện bằng pháp luật nên từ đó,
quá trình dịch chuyển di sản được gọi là quyền thừa kế. Nói cách khác, khái niệm
quyền thừa kế là một phạm trù pháp lý mà nội dung của nó là xác định phạm vi các
quyền, các nghĩa vụ của các chủ thể trong lĩnh vực thừa kế. Quyền thừa kế chỉ xuất
hiện và tồn tại trong xã hội đã có giai cấp và Nhà nước. Bên cạnh nội dung kinh tế,
quyền thừa kế còn bao hàm ý chí của Nhà nước. Nghĩa là, việc dịch chuyển tài sản
của người đã chết cho người còn sống phải hoàn toàn tuân thủ các quy định của
pháp luật.
Nghiên cứu tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài người thấy rằng, từ
thời sơ khai của xã hội loài người, quan hệ sở hữu và quan hệ thừa kế đã xuất
hiện như một tất yếu khách quan, một đòi hỏi của xã hội và có mối liên quan ràng
buộc, qua lại giữa chúng với nhau. Ngay từ thời kỳ đầu hình thành chế độ cộng
sản nguyên thủy, chế độ thị tộc, bộ lạc, khi đó mọi tài sản có được của xã hội đều
1
1, 2. Xem Từ điển tiếng Việt - Viện Ngôn ngữ học NXB Đà Nẵng 2000.
2
5
thuộc về thị tộc, bộ lạc. Chế độ thị tộc, bộ lạc theo mẫu hệ đã áp đặt quyền thống
trị chung đối với cả những tài sản do những người đàn ông làm ra, mặc dù có thể
một người đàn ông trong thị tộc này là chồng của một người đàn bà, là cha của
những đứa con ở thị tộc khác. Ngoài ra, cũng trong chế độ thị tộc, bộ lạc theo
mẫu hệ, các con không thuộc thị tộc của người cha, do đó khi mà con cái chết, tài
sản mà chúng làm ra cũng không thuộc về thị tộc, bộ lạc của người cha mà thuộc
về thị tộc, bộ lạc của người mẹ.
Như vậy, chế độ thị tộc, bộ lạc theo mẫu hệ đã tạo ra mối quan hệ về quyền
kế thừa, hưởng dụng sản của các con và những người thân thuộc về huyết thống
trong thị tộc, bộ lạc của người mẹ, không thừa nhận quyền kế thừa, hưởng dụng
tài sản của các con theo người cha. Ngược lại, nếu người đàn ông chết đi thì tài sản
của họ làm ra lại thuộc thị tộc mà người mẹ của người cha đó là thành viên và
những người thân thuộc về huyết thống trong thị tộc, bộ lạc này được kế thừa,
hưởng dụng các tài sản đó. Ph.Ăngghen đã nhận xét: “Theo chế độ mẫu quyền,
nghĩa là chừng nào mà huyết tộc chỉ kể về bên mẹ và theo tập tục kế thừa nguyên
thủy trong thị tộc mới được kế thừa những người trong thị tộc chết. Tài sản phải
để trong thị tộc nghĩa là trao cho những người cùng huyết tộc với người mẹ”.
Thừa kế nguyên thủy trong xã hội thị tộc, bộ lạc theo mẫu hệ đã đặt nền
móng ban đầu cho sự hình thành và phản ánh tính tất yếu của quan hệ thừa kế tài
sản theo huyết thống, cho dù theo huyết thống của người mẹ. Cho đến ngày nay,
trên thế giới cũng như ở Việt Nam, trong một bộ phận dân cư (tuy rất nhỏ) vẫn còn
có những cụm hoặc cộng đồng dân cư nhỏ duy trì quan hệ thừa kế tài sản theo
huyết thống của người mẹ.
Có thể nhận thấy rằng, dù cho xã hội loài người mới chỉ phát triển ở trình
độ sơ khai, quan hệ kinh tế cơ bản cũng chưa phát triển rõ nét, nhưng trong một
chừng mực nào đó khi tài sản đã có sự dư thừa, thì việc kế thừa, hưởng dụng tài
sản do các thành viên của thị tộc, bộ lạc làm ra khi họ chết đã thể hiện như một
phạm trù kinh tế, một tất yếu của xã hội. Theo nghĩa này, tài sản được làm ra
trong mỗi thị tộc, bộ lạc không những để duy trì cuộc sống cộng đồng của thị tộc,
bộ lạc như hiện trạng của nó, mà còn được chuyển giao đương nhiên khi có thành
viên nào đó chết với tính vật chất tự nhiên của nó. Mục tiêu suy cho cùng là để
duy trì cuộc sống cộng đồng của thị tộc, bộ lạc và cho những thế hệ tiếp theo.
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, của cải xã hội ngày càng
được làm ra nhiều hơn, không những bảo đảm cho sinh hoạt và đời sống của cộng
đồng thị tộc, bộ lạc, mà còn có nhiều của cải dư thừa. Khi mà tư liệu sản xuất đóng
vai trò quan trọng trong quá trình làm ra của cải vật chất và quan hệ xã hội cũng có
sự phân hóa thì việc chiếm hữu tư liệu sản xuất và của cải vật chất dư thừa đã trở
thành nguyên nhân của việc phân hóa giữa các tầng lớp người trong mỗi thị tộc, bộ
lạc. Sự phân hóa này về cơ bản dựa theo mức độ, giá trị tài sản, tư liệu sản xuất mà
họ chiếm hữu được khác nhau, từ đó hình thành nên chế độ tư hữu về tài sản, mà
chủ yếu đối với tư liệu sản xuất.
6
Chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất được xác lập đã phá vỡ tính cộng đồng
của thị tộc, bộ lạc trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản
chung và đương nhiên kết quả cuối cùng của sự phân hóa này chính là việc phân
chia xã hội thành các giai cấp thống trị và bị trị. Chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất
được xác lập cũng đương nhiên phá vỡ việc kế thừa, hưởng dụng chung của thị
tộc, bộ lạc đối với tài sản của người chết để lại và như vậy việc kế thừa, hưởng
dụng chung của thị tộc, bộ lạc đối với tài sản của người chết để lại cũng không
thể còn môi trường để tồn tại. Có chế độ tư hữu về tài sản tất dẫn đến nhu cầu
bảo vệ quyền tư hữu đó khi chủ sở hữu tài sản chết.
Khi việc kế thừa, hưởng dụng chung của thị tộc, bộ lạc đối với tài sản của
người chết để lại đã bị phá vỡ thì không thể không hình thành một hình thức kế
thừa, hưởng dụng tài sản của người chết để lại phù hợp với chế độ tư hữu về tài
sản. Kế thừa, hưởng dụng một cách riêng biệt tài sản của một cá nhân khi họ chết
đã xuất hiện như một tất yếu, nó đánh dấu bước ngoặt mới trong quan hệ tài sản
và phát sinh quan hệ thừa kế tài sản theo đúng nghĩa đen của khái niệm.
Như trên đã phân tích, quan hệ thừa kế tài sản chỉ hình thành và phát triển
khi trong xã hội xuất hiện chế độ tư hữu về tài sản và nó gắn chặt với tư hữu như
hình với bóng, không thể tách rời. Tư hữu là tiền đề của thừa kế, còn thừa kế lại
là cơ sở củng cố quyền tư hữu về tài sản. Chế độ tư hữu về tài sản ra đời đã xóa
đi không những quyền độc tôn của người đứng đầu thị tộc, bộ lạc trong việc định
đoạt tài sản chung của cộng đồng, xóa đi quyền chung của cộng đồng thị tộc, bộ
lạc trong việc kế thừa, hưởng dụng tài sản do các thành viên của thị tộc, bộ lạc
làm ra khi họ chết , mà còn khẳng định quyền tài sản của cá nhân để làm cơ sở
cho việc hình thành quan hệ thừa kế theo đúng nghĩa của nó và điều quan trọng
hơn chính nó đã khẳng định luôn cả diện thừa kế là những người thân thuộc theo
huyết thống của người có tài sản khi họ chết.
Khi giai cấp đã xuất hiện, có giai cấp thống trị và có giai cấp bị trị, đương
nhiên đối kháng giai cấp trong xã hội là điều không tránh khỏi. Kết quả của sự
đối kháng giai cấp là nhà nước của chế độ tư hữu ra đời và trở thành công cụ
chuyên chế của giai cấp thống trị. Nhà nước của chế độ tư hữu đã phải sử dụng
sức mạnh áp chế để bảo vệ quyền, lợi ích của giai cấp mình. Song song với
quyền sở hữu tài sản, quyền thừa kế tài sản cũng được bảo vệ bằng những sức
mạnh đó. Những trật tự trong quan hệ về sở hữu tài sản nói chung và trong quan
hệ về thừa kế nói riêng được nhà nước của chế độ tư hữu thiết lập trong giai đoạn
này phù hợp với tính tất yếu khách quan, nhưng mang bản chất giai cấp sâu sắc.
Quyền lợi của giai cấp thống trị luôn được bảo vệ bằng chính những thiết chế của
sức mạnh trấn áp hay sức mạnh kinh tế.
Để duy trì những tài sản của cá nhân sau khi qua đời được chuyển dịch cho
người còn sống không phải theo phương thức đương nhiên như thời kỳ chế độ
cộng sản nguyên thủy, ngoài việc thiết lập ra một tổ chức đặc biệt để thống trị xã
hội - đó là Nhà nước, giai cấp thống trị đã ban hành pháp luật nhằm duy trì quyền
7
lực kinh tế, nền tảng của quyền lực chính trị từ đời này sang đời khác. Trên cơ sở
chế độ tư hữu về tài sản đã được pháp luật bảo vệ, pháp luật về thừa kế được hình
hành, phát triển như một tất yếu khách quan và là nhu cầu của xã hội có giai cấp.
Theo luật La Mã cổ đại thì các con, cháu của người để lại di sản có quyền thừa kế
trước tiên, vì họ được pháp luật coi là những người thừa kế đương nhiên và nếu
người để lại di sản không có con, cháu thì mới đến lượt những người có quan hệ
huyết thống nội tộc được hưởng di sản, những người thuộc thị tộc của người để
lại di sản chỉ được hưởng di sản khi không còn người thừa kế thuộc nội tộc của
người để lại di sản. Từ những quy định này, quan hệ pháp luật về thừa kế đã ra
đời và chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống các quan hệ pháp luật dân sự.
Trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, sự xuất hiện chế độ hôn
nhân với hình thái gia đình đối ngẫu làm cho kinh tế gia đình đã trở thành một
đơn vị kinh tế độc lập trong thị tộc, không còn phụ thuộc vào thị tộc và cuối cùng
làm tan rã thị tộc.
Ở thời kỳ này gia đình phát triển sang một hình thức mới hơn (Ăng ghen
gọi là hình thức trung gian trong bước chuyển từ chế độ hôn nhân đối ngẫu sang
chế độ hôn nhân một vợ một chồng), trong đó mọi quyền lực thuộc về người
chồng, với tư cách là người gia trưởng nên tất cả tài sản trong gia đình thuộc sở
hữu của người chồng và sở hữu của “gia đình cá thể đã trở thành một lực lượng
đang đe doạ xã hội”
3
.
Suy xét rộng ra cho thấy: do sự phân công lao động, ở thời kỳ này xã hội
đã có nhiều biến đổi sâu sắc. Cùng với sự phân công lao động xã hội, chăn nuôi
và trồng trọt ngày càng phát triển, năng xuất lao động ngày một nâng cao đã xuất
hiện sự dư thừa sản phẩm. Quá trình phân hoá của cải trong xã hội được hình
thành và dẫn đến sự phân biệt kẻ giàu người nghèo trong xã hội. Những người có
quyền hành trong thị tộc, bộ lạc tìm mọi thủ đoạn để chiếm hữu số của cải dư
thừa đó làm của riêng. Chế độ tư hữu xuất hiện và từ đó chế độ thị tộc, chế độ
cộng sản nguyên thuỷ dần dần bị phá vỡ và hoàn toàn tan rã, nhường chỗ cho một
chế độ xã hội mà trong đó đã có sự phân hoá giai cấp.
Nếu trước đây tổ chức thị tộc đã sinh ra từ một xã hội không biết đến mâu
thuẫn nội tại, trong đó mọi thành viên xã hội hầu như hoàn toàn “hoà tan” vào
cuộc sống cộng đồng thì xã hội mới ra đời đã có sự phân chia giai cấp, trong đó
các giai cấp có quyền lợi đối lập nhau, “luôn luôn mâu thuẫn và đấu tranh gay gắt
với nhau để bảo vệ lợi ích của giai cấp mình”
4
. Trước bối cảnh đó, dĩ nhiên tổ
chức thị tộc trở thành bất lực trước xã hội, không thể phù hợp được nữa. Lúc này,
“xã hội đó đòi hỏi phải có một tổ chức mới đủ sức để dập tắt cuộc xung đột công
khai giữa các giai cấp ấy, hoặc cùng lắm là để cho cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra
trong lĩnh vực kinh tế, dưới một hình thức gọi là hợp pháp. Tổ chức đó là nhà
3
Xem Ph.đ. Ăng ghen “Nguồn gốc gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước”, NXB Sự Thật Hà Nội, 1972 tr.89
4
Xem “Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật” của Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB CAND năm 2001
tr.38
8
nước và nhà nước đã xuất hiện.”
5
Khi chưa xuất hiện Nhà nước, thừa kế được dịch chuyển theo phong tục,
tập quán của các thị tộc, bộ lạc, thì khi Nhà nước xuất hiện, quá trình dịch chuyển
tài sản từ một người đã chết cho người còn sống đã có sự tác động bằng ý chí của
Nhà nước. Giai cấp thống trị thông qua quyền lực nhà nước để áp dụng các
phương pháp cưỡng chế nhằm tác động đến các quan hệ xã hội làm cho các quan
hệ đó phát sinh, phát triển theo hướng có lợi cho giai cấp mình. Nghĩa là khi có
Nhà nước thì mọi quan hệ cũng như mọi sự kiện xẩy ra trong đời sống xã hội đều
được pháp luật điều chỉnh. Thừa kế trong xã hội đã có nhà nước cũng không nằm
ngoài sự điều chỉnh của pháp luật.
Vì thế, có thể nói rằng: khái niệm quyền thừa kế được xuất hiện và chỉ xuất
hiện chừng nào có sự xuất hiện nhà nước và pháp luật.
Như vậy, nếu thừa kế xuất hiện ngay cả khi xã hội chưa phân chia giai cấp,
chưa có nhà nước và pháp luật thì khái niệm quyền thừa kế chỉ ra đời và tồn tại
trong những xã hội đã phân chia giai cấp và có nhà nước.
Bằng việc ban hành các văn bản pháp luật, Nhà nước qui định quyền để lại
thừa kế và nhận thừa kế của các chủ thể, qui định trình tự và các điều kiện dịch
chuyển tài sản cũng như qui định các phương thức dịch chuyển tài sản từ người đã
chết sang những người còn sống khác. Tuy nhiên, mỗi một chế độ xã hội khác nhau
sẽ có sự khác nhau trong quy định về quyền thừa kế. Thậm chí ngay trong một chế
độ xã hội nhưng ở từng giai đoạn khác nhau sự quy định này cũng có thể khác nhau.
Điều đó có nghĩa rằng chế độ thừa kế phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển kinh
tế, xã hội của một nhà nước và đặc biệt là do chế độ sở hữu quyết định.
Như vậy, cùng với quan hệ sở hữu, quan hệ thừa kế không đơn thuần chỉ
còn là phạm trù kinh tế nữa, mà nó đã trở thành phạm trù pháp luật. Quan hệ sở
hữu và quan hệ thừa kế đều là những quan hệ pháp luật và giữa chúng có mối liên
hệ mật thiết với nhau, quan hệ này là tiền đề của quan hệ kia, ngược lại chúng lại
là cơ sở của nhau theo những chuẩn mực pháp luật nhất định và mang bản chất
giai cấp sâu sắc. Quan hệ pháp luật về thừa kế hiện hành là một minh chứng cho
nhận định đó.
Quan hệ pháp luật về thừa kế có tính khả biến. Tính khả biến được thể hiện
bằng các quy phạm pháp luật, mà các quy phạm này không những phụ thuộc vào
sự thay đổi của quan hệ sở hữu trong các chế độ xã hội khác nhau, mà còn phụ
thuộc vào mức độ phát triển trong một chế độ xã hội nhất định, nghĩa là trong mỗi
giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của chế độ xã hội đó pháp luật cũng có quy
định khác nhau trong việc điều chỉnh mối quan hệ về thừa kế. Quan hệ thừa kế khi
đó không những là phạm trù pháp luật, mà còn được hiểu như là một phạm trù lịch
sử, bởi vì nó thể hiện rõ nét sự phát triển kinh tế - xã hội của các chế độ xã hội
khác nhau và của một chế độ xã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định.
5
Xem “Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật” của Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB CAND năm 2001 tr.38
9
Với những phân tích trên đây, có thể xác định rằng, quan hệ thừa kế là một
phạm trù pháp luật phản ánh quan hệ kinh tế - xã hội nói chung và lịch sử phát
triển kinh tế - xã hội nói riêng.
Điều chỉnh mối quan hệ về thừa kế, pháp luật về thừa kế xác định quyền
của cá nhân trong việc để lại di sản và quyền của những người nhận di sản thừa
kế, mà trong lý luận pháp lý được gọi chung là quyền thừa kế.
Với những phân tích trên đây, quan hệ thừa kế cần được hiểu là một loại
quan hệ pháp luật phát sinh từ sự kiện chết của một cá nhân - chủ sở hữu tài sản
và khi có người thừa kế thực hiện quyền thừa kế của họ, theo đó tài sản và quyền
sở hữu tài sản (di sản) của người chết được chuyển giao cho người (cá nhân hoặc
tổ chức) thừa kế.
Thừa kế là quan hệ tài sản, nhưng là quan hệ tài sản có tính đặc thù. Trong
các quan hệ dân sự khác, các bên chủ thể đều còn sống và ý chí của các bên được
thể hiện đồng thời khi xác lập giao dịch, còn quan hệ thừa kế di sản chỉ phát sinh
khi bên có tài sản chết hoặc được xác định là đã chết. Vậy, thừa kế được hiểu là
"sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống".
Quyền thừa kế là chế định pháp luật và quan hệ thừa kế là quan hệ pháp
luật dân sự được các quy phạm pháp luật điều chỉnh phù hợp với những điều
kiện, trình tự để lại di sản và nhận di sản của các chủ thể tham gia vào quan hệ
đó. Nếu thừa kế tồn tại trong mọi hình thái kinh tế - xã hội thì quyền thừa kế chỉ
phát sinh khi xã hội phân chia giai cấp và có nhà nước. Pháp luật về thừa kế phản
ánh bản chất giai cấp tồn tại trong mỗi chế độ xã hội nhất định và có thể thay đổi
phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội nhất định của mỗi quốc gia.
Tất cả sự quy định của nhà nước nhằm tác động, điều chỉnh quá trình dịch
chuyển tài sản từ một người đã chết sang người còn sống sẽ hình thành khái niệm
quyền thừa kế theo nghĩa khách quan của nó.
Quyền thừa kế là một chế định của ngành luật dân sự bao gồm một tổng
hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận nhằm điều
chỉnh quá trình dịch chuyển những lợi ích vật chất từ người chết cho những
người còn sống khác.
Việc ghi nhận và xác định các quyền, nghĩa vụ nói trên không phải hoàn
toàn do ý chí chủ quan tuyệt đối của giai cấp lãnh đạo xã hội, dù rằng pháp luật là
ý chí của giai cấp đó. Bằng ý chí chủ quan của mình trên cơ sở dựa vào điều kiện
vật chất của xã hội, Nhà nước ta đã ghi nhận các quyền cũng như xác định các
nghĩa vụ trong lĩnh vực thừa kế cho các cá nhân và các chủ thể khác.
Pháp luật của bất kỳ nhà nước nào cũng phải xuất phát từ cơ sở kinh tế,
phù hợp với thực tế khách quan và do cơ sở kinh tế của xã hội quyết định. Khi
chế độ kinh tế thay đổi sẽ dẫn đến sự thay đổi tương ứng trong sự quy định của
pháp luật. Vì vậy, dẫu rằng pháp luật là ý chí của Nhà nước (do Nhà nước đặt ra)
10
nhưng nó vẫn mang tính khách quan. Như vậy, khi xem xét quyền thừa kế dưới
góc độ một chế định pháp luật thì có nghĩa là xem xét, nhìn nhận ở phương diện
khách quan. Ngoài ra, quyền thừa kế còn được xem xét ở một phương diện khác,
phương diện chủ quan.
Nhìn nhận theo phương diện này, quyền thừa kế là quyền năng cụ thể của
mỗi một cá nhân trong việc để lại thừa kế và nhận di sản thừa kế, đó là những
khả năng mà các chủ thể được phép xử sự theo quy định của pháp luật, được để
lại thừa kế như thế nào, việc lập di chúc phải tuân thủ những yêu cầu gì, ai là
người được nhận di sản thừa kế, khi nào thì bị tước quyền hưởng di sản, người
lập di chúc có những quyền năng gì v.v…
Quyền thừa kế cần được hiểu theo hai phương diện như sau:
- Về phương diện khách quan, quyền thừa kế được hiểu là tổng hợp các
quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc chuyển
dịch tài sản và quyền sở hữu tài sản (di sản) của người chết cho người còn sống.
- Về phương diện chủ quan, quyền thừa kế được hiểu là quyền dân sự cơ
bản của công dân được để lại tài sản của mình cho những người còn sống và
quyền của công dân được nhận di sản theo sự định đoạt của người có tài sản
(bằng di chúc) hoặc theo một trình tự và thủ tục pháp luật nhất định (thừa kế
theo pháp luật).
Như vậy, có thể khẳng định lại một lần nữa rằng, bản chất thực của quan hệ
thừa kế không thể hiện rõ nét trong loại hình thừa kế theo di chúc, mà nó được thể
hiện một cách sâu sắc trong loại hình thừa kế theo pháp luật.
Thừa kế theo pháp luật là sự chuyển dịch di sản của người chết
cho người còn sống theo mối quan hệ ràng buộc về huyết thống, gia đình hay
thân thuộc giữa người có tài sản để lại sau khi họ chết và người nhận di sản. Thừa
kế theo pháp luật bảo đảm quyền của người có tài sản được để
lại tài sản của họ khi họ chết, nếu không thực hiện quyền định đoạt bằng việc lập
di chúc hoặc tuy có lập di chúc, song việc định đoạt đó bị hạn chế bởi pháp luật
hay di chúc họ lập ra không có hiệu lực theo quy định của pháp luật. Thừa kế
theo pháp luật về bản chất là bảo vệ quyền của những người có quan hệ huyết
thống, gia đình hay thân thuộc với người có tài sản khi người này chết.
Quá trình dịch chuyển tài sản từ một người đã chết cho người còn sống
được gọi là thừa kế hay được gọi là quan hệ thừa kế? Tương tự như vậy, quá
trình dịch chuyển tài sản từ một người đã chết cho người còn sống khi đã có sự
tác động của pháp luật được gọi là quyền thừa kế hay được gọi là quan hệ pháp
luật về thừa kế?
Việc sử dụng thuật ngữ nào trong những trường hợp nói trên có ý nghĩa
tương đối quan trọng về mặt lý luận. Nếu cho rằng thừa kế là một quan hệ xã hội
thì thừa kế khi có sự điều chỉnh của pháp luật sẽ là một quan hệ pháp luật dân sự.
11
Và như vậy, sẽ động chạm đến một vấn đề tương đối lớn về mặt lý luận sau đây:
Trong khoa học pháp luật dân sự, người ta thường dựa vào những tiêu chí
khác nhau để phân chia quan hệ pháp luật dân sự thành các loại khác nhau:
- Nếu dựa vào tính xác định của chủ thể mang quyền và chủ thể mang
nghĩa vụ thì quan hệ pháp luật dân sự được phân thành quan hệ pháp luật dân sự
tuyệt đối và quan hệ pháp luật dân sự tương đối. Quan hệ pháp luật dân sự tuyệt
đối là quan hệ mà trong đó chỉ xác định được chủ thể mang quyền, tất cả các chủ
thể khác là chủ thể mang nghĩa vụ. Quan hệ pháp luật dân sự tương đối là quan
hệ mà trong đó, tương ứng với chủ thể mang quyền đã được xác định cụ thể là
chủ thể mang nghĩa vụ cũng đã được xác định cụ thể, theo đó quyền của chủ thể
bên này là nghĩa vụ của chủ thể bên kia và ngược lại.
Như vậy, theo cách phân loại trên và nếu coi thừa kế là một quan hệ thì
quan hệ pháp luật về thừa kế sẽ thuộc nhóm quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối
hay tương đối? Điều này không thể lý giải được bởi lẽ nếu thừa kế là một quan hệ
pháp luật thì trong quan hệ đó bao giờ cũng đã xác định được cả hai bên chủ thể
nên không thể xếp nó vào nhóm các quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối được. Mặt
khác, trong quan hệ này không có sự tương ứng đối lập nhau về quyền, nghĩa vụ
giữa các bên chủ thể nên cũng không thể xếp nó vào nhóm các quan hệ pháp luật
dân sự tương đối.
- Nếu dựa vào cách thức thực hiện quyền dân sự của thể mang quyền thì
quan hệ pháp luật dân sự được phân chia thành quan hệ vật quyền và quan hệ
trái quyền. Quan hệ vật quyền là quan hệ pháp luật dân sự mà trong đó, chủ
thể mang quyền thực hiện quyền dân sự bằng chính hành vi của mình mà hoàn
toàn không phụ thuộc vào hành vi của người khác. Ví dụ: quan hệ pháp luật về
sở hữu được coi là quan hệ vật quyền vì trong đó khi thực hiện quyền dân sự
của mình, chủ sở hữu (chủ thể mang quyền) bằng chính hành vi của mình tác
động trực tiếp đến vật để thực hiện việc chiếm hữu, việc sử dụng và định đoạt
tài sản của mình. Quan hệ trái quyền là quan hệ pháp luật dân sự mà trong đó,
quyền của chủ thể bên này muốn được thực hiện phải thông qua hành vi thực
hiện nghĩa vụ của bên kia. Ví dụ: quan hệ nghĩa vụ vay nợ được coi là một
quan hệ trái quyền vì quyền thu hồi nợ của bên cho vay chỉ được thực hiện
chừng nào bên vay thực hiện hành vi trả nợ.
Theo cách phân loại trên và nếu coi thừa kế là một quan hệ thì quan hệ
pháp luật về thừa kế sẽ được xếp vào nhóm quan hệ nào? Trước hết, không thể
xếp nó vào nhóm các quan hệ trái quyền vì quyền nhận tài sản của người thừa kế
hoàn toàn không phụ thuộc vào hành vi của người để lại di sản, càng không thể
thông qua hành vi của người đó được vì quyền nhận di sản chỉ xuất hiện khi
người để lại di sản đã chết. Mặt khác, cũng không thể xếp thừa kế vào nhóm các
quan hệ vật quyền được bởi người thừa kế không thể tác động đến tài sản của
người để lại di sản nếu ở họ chưa xuất hiện quyền nhận di sản. Kể từ khi họ có
quyền nhận di sản thì di sản đó đã thuộc sở hữu của họ và khi họ bằng hành vi
12
của mình tác động trực tiếp đến di sản chính là việc họ đang thực hiện quyền của
một chủ sở hữu để chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của chính mình. Thừa
kế chỉ là hệ luận của một quan hệ vật quyền và từ đó tạo ra một quan hệ vật
quyền khác. Bởi lẽ, như đã nói ở phần trước, thừa kế chỉ là sự tiếp nối giữa việc
để lại tài sản và việc nhận tài sản mà việc để lại tài sản của người đã chết (dù có
di chúc hay không) thì về bản chất, đều là quyền định đoạt tài sản của một chủ sở
hữu. Việc nhận di sản chính là việc người thừa kế tiếp nhận quyền định đoạt của
người để lại thừa kế.
Như vậy, nếu thừa kế là một quan hệ pháp luật thì nó phải thuộc hoặc
nhóm này hoặc nhóm kia theo các cách phân loại trên. Trong khi về mặt lý luận,
không thể xếp nó vào bất kỳ một nhóm nào bởi thực chất, thừa kế chỉ là một sự
kiện dịch chuyển tài sản từ một người đã chết sang người còn sống.
Theo quan niệm truyền thống thì quá trình dịch chuyển tài sản của người
đã chết cho người còn sống là một quan hệ xã hội về thừa kế và thường được gọi
quan hệ thừa kế. Đó là mối quan hệ giữa hai bên chủ thể. Một bên là người để lại
di sản và một bên là người nhận di sản thừa kế. Có lẽ cách gọi này xuất phát từ
quan điểm cho rằng, đối tượng điều chỉnh của pháp luật chỉ có thể là các quan hệ
xã hội. Thừa kế được pháp luật điều chỉnh nên nó phải là một quan hệ xã hội và
so với các quan hệ khác, thừa kế là một quan hệ xã hội khá đặc biệt.
Chúng tôi cho rằng, không nên hiểu khái niệm thừa kế là một “quan hệ
pháp luật” với các lý do sau đây:
Thứ nhất, ngoài việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, pháp luật còn điều
chỉnh rất nhiều các sự kiện khác xảy ra trong thực tế. Khi một quan hệ xã hội
phát sinh cũng có nghĩa là đã xuất hiện một sự kiện nhưng một sự kiện xuất hiện
chưa hẳn đã làm xuất hiện một quan hệ xã hội. Trong đa số các trường hợp thì
khi xuất hiện một sự kiện sẽ đồng thời làm xuất hiện một quan hệ xã hội. Tuy
nhiên, cũng có rất nhiều sự kiện xuất hiện và đã được pháp luật dự liệu một hậu
quả pháp lý nhưng bản thân sự kiện đó không phải là một quan hệ xã hội và cũng
không làm xuất hiện một quan hệ xã hội nào. Chẳng hạn, hành vi từ bỏ quyền sở
hữu tài sản là một sự kiện được pháp luật điều chỉnh (xem Điều 249 BLDS)
nhưng hành vi đó không phải là một quan hệ xã hội. Thậm chí, hành vi này chính
là sự kiện làm chấm dứt một quan hệ pháp luật về sở hữu.
Thứ hai, trong một tác phẩm của mình, C. Mác đã viết:
“ Xã hội bất cứ dưới hình thức nào-là gì? Nó là sự tác động lẫn nhau giữa
người và người”
6
. Luận điểm trên của C. Mác đã chỉ cho chúng ta thấy rằng xã
hội vốn là tổng hoà các mối quan hệ giữa con người với con người.
Mặt khác, xã hội được định dạng thông qua hành vi xử sự của con người
hiện tại. Nói đến xã hội là nói đến sự cấu thành bởi những con người cụ thể -
những cá nhân sống. Vì thế, nếu quan hệ xã hội là quan hệ giữa người với người
6
Xem C.Mác: “Thư gửi Alencốp” Tuyển tập, tập II NXB Sự Thật, Hà Nội 1971 tr.450
13
thì phải là mối quan hệ giữa những người đang sống. Với một người đã chết,
người ta chỉ có thể nói rằng người đó đã từng tham gia quan hệ này hay quan hệ
khác mà tuyệt nhiên khôngthể nói rằng người đã chết đang tham gia một quan hệ
nào đó, trong khi thừa kế chỉ phát sinh khi người để lại tài sản đã chết.
Thứ ba, “để tham gia vào quan hệ xã hội nói chung và quan hệ dân sự nói
riêng, cá nhân phải có tư cách chủ thể được tạo thành bởi năng lực pháp luật và
năng lực hành vi”.
7
Mặt khác, tại Khoản 3-Điều 16-BLDS đã xác định “Năng lực
pháp luật của cá nhân chấm dứt khi người đó chết”. Vì thế, nếu nói rằng thừa kế
là quan hệ giữa người để lại di sản với người nhận di sản thì vô hình chung lại
thừa nhận rằng, cá nhân khi không còn năng lực pháp luật và năng lực hành vi
dân sự vẫn là chủ thể của một quan hệ pháp luật dân sự.
Thứ tư, theo nghĩa từ điển: “Thừa kế là hưởng của người chết để lại cho”
thì thừa kế được hiểu là sự tiếp nối giữa việc để lại di sản của người đã chết với
việc nhận di sản của người đang sống (mà không phải là mối quan hệ giữa họ).
Sự tiếp nối đó chính là quá trình dịch chuyển tài sản và được coi là sự kiện (căn
cứ) làm xác lập quyền sở hữu của người thừa kế đối với khối di sản mà họ đã
nhận thừa kế (Xem Điều 245-BLDS).
Thứ năm, cũng theo Từ điển tiếng Việt thì thừa kế còn một nghĩa thứ hai
đồng nghĩa với kế thừa là: “Thừa hưởng, giữ gìn và tiếp tục phát huy” (Từ điển
tiếng Việt) (nghĩa này chỉ dùng trong những trường hợp cái được thừa hưởng
mang giá trị tinh thần). Vì thế, nếu nói rằng kế thừa những di sản văn hoá của dân
tộc thì cần phải hiểu đó là sự thừa hưởng của thế hệ sau đối với những giá trị tinh
thần của thế hệ trước để lại mà không được hiểu là mối quan hệ giữa thế hệ trước
với thế hệ sau.
Như vậy, thừa kế nói chung là quá trình dịch chuyển di sản từ người đã
chết cho người còn sống. Nếu quá trình dịch chuyển này được thực hiện dựa trên
ý chí của người đã chết thể hiện trong di chúc mà họ để lại sẽ được gọi là: Thừa
kế theo di chúc. Mặt khác, nếu sự dịch chuyển trên được thực hiện “Theo hàng
thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật qui định” sẽ được gọi là: Thừa
kế theo pháp luật.
2. Quan hệ thừa kế và hàng thừa kế.
2.1. Xác định hàng thừa kế.
Khái niệm chung về hàng thừa kế
Như chúng ta đã biết, khi thừa kế theo pháp luật thì di sản của người chết
phải được dịch chuyển cho những người thân thích của người đó. Tuy nhiên,
trong số những người đó thì mức độ gần gũi, thân thích của mỗi người đối với
người chết là khác nhau. Theo trình tự hưởng di sản thừa kế thì người nào có mức
độ gần gũi nhất với người chết sẽ được hưởng di sản mà người đó để lại, nhiều
7
Xem “Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam” của Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB CAND năm 2001, tr.52
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét