Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Một số Giải pháp nhằm mở rộng hoạt động tín dụng tài trợ XNK tại Sở giao dịch I- Ngân hàng Đầu tư và Phát triển VN

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng, xuất nhập khẩu trở thành vấn đề quan
trọng. Thị trờng thơng mại thế giới mở rộng không ngừng, nhu cầu về thị trờng tiêu
thụ hàng hoá, thị trờng đầu t trở thành nhu cầu cấp bách của các doanh nghiệp xuất
nhập khẩu. Do khả năng tài chính có hạn mà các doanh nghiệp không phải lúc nào
cũng đủ vốn thu mua chế biến hàng xuất khẩu, từ đó nảy sinh ra quan hệ vay mợn và
sự giúp đỡ tài trợ của các ngân hàng.
Quan hệ giao thơng quốc tế đặt ra những vấn đề tế nhị, đôi khi phức tạp, nên
những nghiệp vụ thơng mại đòi hỏi sự tham gia của ngân hàng đem lại cho các nhà
hoạt động ngoại thơng sự hiểu biết kỹ thuật và chỗ dựa tài chính trong lĩnh vực quan
trọng này.
Có thể nói sự ra đời của tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu là một yêu cầu tất yếu
khách quan, gắn liền với các quan hệ mua bán ngoại thơng giữa các nớc với nhau.
Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và
phát triển của ngoại thơng cũng nh sự phát triển kinh tế của đất nớc. Cùng với sự phát
triển của ngoại thơng và hệ thống ngân hàng, hoạt động hỗ trợ xuất nhập khẩu của
ngân hàng phát triển ngày càng đa dạng và phong phú:
- Hình thức đơn giản đầu tiên là ngân hàng cho vay trực tiếp đối với các đơn
vị nhập khẩu nh cho vay để bổ sung vốn lu động, thu mua chế biến sản xuất
hàng xuất khẩu theo các hợp đồng đã đợc ký kết, cho vay để thanh toán các
nguyên liệu, hàng hoá, vật t nhập từ nớc ngoài.
- Từ hình thức cho vay ngắn hạn là chủ yếu, ngân hàng đã mở rộng trung, dài
hạn để hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu. Ngân
hàng cho vay để mua sắm máy móc thiết bị, cải tiến công nghệ, ứng dụng
thành tựu khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lợng sản phẩm, tăng năng lực
cạnh tranh trên thị trờng thế giới.
- Ngân hàng còn thực hiện cho vay gián tiếp, đứng ra bảo lãnh để vay vốn n-
ớc ngoài cho các đơn vị xuất nhập khẩu, nhờ đó các doanh nghiệp có thể
vay vốn mà không phải thế chấp hay cầm cố tài sản, bảo lãnh mở L/C thanh
toán hàng nhập khẩu, bảo lãnh hối phiếu, bảo lãnh hợp đồng, .v.v
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Nếu doanh nghiệp có hối phiếu trong tay có thể đa đến ngân hàng chiết
khấu cũng nh các chứng từ có giá trị thanh toán khác. Ngân hàng sẽ mua lại
bộ chứng từ và có quyền đòi tiền nhà nhập khẩu theo hối phiếu. Trờng hợp
nhà nhà xuất khảu có những hợp đồng xuất liên tục và dài hạn theo định kỳ
với điều kiện thanh toán trả chậm, nhng có nhu cầu vốn ngay, nhà xuất
khẩu bán các khoản thanh toán cha đến hạn cho ngân hàng. Khi đến hạn,
ngân hàng sẽ thu tiền từ nhà nhập khẩu, đây chính là hình thức tín dụng bao
thanh toán.
Nh vậy, do trình độ kỹ thuật nghiệp vụ thanh toán ngày càng phát triển, các
phơng thức thanh toán quốc tế ngày càng đa dạng, nghiệp vụ tài trợ xuất nhập khẩu
phát triển dới nhiều hình thức ngày càng đa dạng, phục vụ tích cực và có hiệu quả cho
hoạt động xuất nhập khẩu.
III. vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động
xuất nhập khẩu.
1. Sự cần thiết khách quan của hoạt động xuất nhập khẩu trong nền kinh
tế.
Bất cứ quốc gia nào muốn phát triển kinh tế không chỉ dựa vào sản xuất trong
nớc mà còn giao dịch quan hệ với các nớc khác. Do khác nhau về điều kiện tự nhiên
nh tài nguyên, khí hậu nếu chỉ dựa vào sản xuất trong n ớc không thể cung cấp đủ
hàng hoá, dịch vụ đủ đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu thụ của nền kinh tế mà phải nhập
những mặt hàng cần thiết nh nguyên liệu, vật t, máy móc thiết bị, hàng tiêu dùng thiết
yếu mà trong nớc không sản xuất đợc hoặc sản xuất với chi phí cao hơn. Ngợc lại,
trên cơ sở khai thác tiềm năng và những lợi thế kinh tế vốn có, nền kinh tế ngoài việc
phục vụ nhu cầu trong nớc còn có thể tạo nên thặng d có thể xuất khẩu sang các nớc
khác, góp phần tăng ngoại tệ cho đất nớc để nhập khẩu các mặt hàng còn thiếu và để
trả nợ.
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nh vậy, do nhu cầu phát triển kinh tế mà phát sinh nhu cầu trao đổi, giao dịch
hàng hoá giữa các nớc với nhau hay nói cách khác hoạt động xuất nhập khẩu là yêu
cầu khách quan của nền kinh tế.
2. Vai trò của tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu.
Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và
phát triển của ngoại thơng cũng nh sự phát triển kinh tế của đất nớc.
2.1 Đối với nền kinh tế đất nớc
- Tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng thơng mại tạo điều kiện cho hàng hoá
xuất nhập khẩu lu thông trôi chảy. Thông qua tài trợ của ngân hàng, hàng
hoá XNK theo yêu cầu của thị trờng đợc thực hiện thờng xuyên, liên tục
đảm bảo sự ổn định của nền kinh tế.
- Tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát
triển, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, làm động cơ thúc đẩy nền kinh tế.
Doanh nghiệp có sự giúp đỡ của ngân hàng có vốn để mở rộng sản xuất
kinh doanh, hiện đại hoá trang thiết bị làm tăng năng suất lao động. Doanh
nghiệp phát triển chính là kinh tế đất nớc phát triển.
2.2 Đối với doanh nghiệp
- Nhờ sự giúp đỡ của ngân hàng, đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp,
giúp doanh nghiệp có thể tồn tại và đứng vững trong nền kinh tế thị trờng,
mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm cho ngời lao động, giảm
tỷ lệ thất nghiệp đồng thời hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nớc.
- Tài trợ xuất nhập khẩu làm tăng hiệu quả của doanh nghiệp trong quá trình
thực hiện hợp đồng. Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, vốn tài trợ giúp doanh
nghiệp mua hàng đúng thời vụ, gia công chế biến và giao hàng đúng thời
điểm. Đối với doanh nghiệp nhập khẩu, vốn tài trợ giúp doanh nghiệp mua
đợc những lô hàng lớn, giá hạ góp phần nâng cao chất lợng hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp.
- Tín dụng ngân hàng làm giảm rủi ro của hoạt động xuất nhập khẩu. Hoạt
động xuất nhập khẩu thờng diễn ra ở hai nớc khác nhau. Do vậy, sự hiểu
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
biết giữa ngời mua và ngời bán không đợc đầy đủ, chính xác. Nhờ sử dụng
tín dụng ngân hàng, Nhà nhập khẩu và xuẩt khẩu sẽ yên tâm nhận đúng số
tiền, hàng của mình thông qua các ngân hàng trung gian đứng ra bảo đảm.
- Đặc biệt, nhờ tín dụng ngân hàng, doanh nghiệp thực hiện đợc những thơng
vụ lớn. Vốn tài tợ của ngân hàng kịp thời, đúng lúc giúp cho doanh nghiệp
đảm bảo thực hiện theo hợp đồng từ đó làm cho uy tín của doanh nghiệp đ-
ợc nâng cao trên thị trờng thế giới. Tín dụng xuất nhập khẩu tại các ngân
hàng thơng mại dựa vào 3 nguyên tắc cơ bản:
(1) Sử dụng vốn vay đúng mục đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
(2) Phải hoàn trả nợ gốc và tiền lãi đúng hạn đã thoả thuận.
(3) Tiền vay phải có tài sản tơng đơng bảo đảm.
Cùng với sự phát triển của ngoại thơng, nhu cầu tín dụng của các doanh
nghiệp, các tổ chức kinh tế ngày càng gia tăng. Nó đòi hỏi ngân hàng ngày càng phải
hoàn thiện và phát triển các nghiệp vụ tín dụng đáp ứng nhu cầu của các nhà xuất
nhập khẩu và sự biến động của nền kinh tế. Ngân hàng cần nắm bắt đợc nhu cầu tài
trợ nảy sinh trong hoạt động xuất nhập khẩu để có thể đáp ứng đợc nhu cầu của
doanh nghiệp và mở rộng hoạt động của mình.
3. Nhu cầu tài trợ cho xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp.
3.1. Nhu cầu tài trợ cho xuất khẩu:
Việc thực hiện xuất khẩu hàng hoá, máy móc thiết bị, công nghệ thờng kéo dài
từ nhiều tháng cho tới vài năm, thông thờng nhu cầu tài trợ thờng nảy sinh ở nhiều
giai đoạn khác nhau. Cụ thể:
+ Giai đoạn phân tích nhu cầu, thiết kế, tìm kiếm khách hàng, đại diện tại các
hội chợ, đàm phán sơ bộ, lập kế hoạch: Đây là giai đoạn đầu tiên và có ý nghĩa quyết
định đối với việc thực hiện các bớc sau của cả hoạt động xuất khẩu. Để hoàn thành
tốt giai đoạn này, các chuyên gia phải thực hiện các chuyến đi dài ngày và tiến hành
nhiều cuộc đàm phán, phải làm ra hàng mẫu và mô hình để trng bày, giới thiệu. Sau
đó họ còn phải hoàn tất các tài liệu thiết kế và tính toán chính xác cho đàm phán hợp
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đồng. Chi phí cho những hoạt động này không nhỏ, đặc biệt với các cơ sở kinh doanh
tiềm lực tài chính còn hạn hẹp.
+ Giai đoạn đa ra đề nghị chào hàng: Các đề nghị chào hàng trong khuôn khổ
đấu thầu quốc tế thờng đợc để kèm theo bản bảo đảm đấu thầu của một ngân hàng có
uy tínn trong giao dịch quốc tế. Do vậy, các doanh nghiệp xuất khẩu cũng cần đợc sự
giúp đỡ của ngân hàng.
+ Giai đoạn ký kết hợp đồng: Trong trờng hợp nhà xuất khẩu cha có uy tín cao
ở nớc ngoài, đối tác có thể yêu cầu một bảo đảm giao hàng hoặc bảo đảm hoàn thành
công trình. Đảm bảo này sẽ có hiệu lực nếu việc giao hàng hoặc hoàn thành công
trình không đúng nh thoả thuận.
Trong trờng hợp khác, nếu nhà xuất khẩu cần tiền đặt cọc mà nhà nhập khẩu
là ngời nớc ngoài đang gặp khó khăn và không có khả năng đặt cọc từ nguồn vốn
riêng của mình thì nhà xuất khẩu có thể đề nghị ngân hàng của mình một tài trợ đặt
cọc có lợi cho đối tác thơng mại của mình. Ngoài ra, khi ký kết hợp đồng thờng đi
kèm theo khoản thanh toán hoa hồng nhất định của nhà xuất khẩu cho nhà nhập
khẩu do vậy nhà xuất khẩu cũng cần đ ợc tài trợ ở giai đoạn này.
+ Giai đoạn chuẩn bị sản xuất: Sau khi đã ký hợp đồng, nhà xuất khẩu sẽ tiến
hành chuẩn bị sản xuất. Nhất là việc xây dựng các công trình lớn nh nhà máy, xí
nghiệp Việc này th ờng thờng đi kèm với chi phí lớn vợt quá mức đặt cọc.
+ Giai đoạn sản xuất: mặc dù đã có những thoả thuận về việc thanh toán tiếp
theo của ngời mua, trong thời gian này thờng nảy sinh các nhu cầu tài chính cao về
vật t và chi phí liên quan khác vợt quá các khoản thanh toán giữa chừng. Ngoài ra, với
các mặt hàng lớn nh máy móc công nghệ thì nhiều khi nhà xuất khẩu còn cần đ ợc
tài trợ cho các chi phí xây dựng kho bãi, chuẩn bị mặt bằng sản xuất, đào tạo ngời sử
dụng máy móc ở n ớc nhập khẩu.
+ Giai đoạn cung ứng: Ngay cả trong giai đoạn cung ứng cũng có thể nảy sinh
các chi phí cần đợc tài trợ nh chi phí vận tải, bảo hiểm tuỳ theo điều kiện cung ứng.
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Giai đoạn lắp ráp, chạy thử, bàn giao công trình: Sau khi hàng hoá đợc bàn
giao đến địa điểm quy định, nhà xuất khẩu còn cần chi phí cho lắp ráp chạy thử cho
tới khi đợc ngời mua thu nhận và chấp nhận thanh toán.
+ Giai đoạn bảo hành: Trong giai đoạn này ngời mua có quyền yêu cầu đợc
bảo hành ở ngân hàng của nhà xuất khẩu trớc khi thanh toán.
3.2. Nhu cầu tài trợ nhập khẩu
Với hoạt động nhập khẩu, nếu nh nhà xuất khẩu có nhu cầu tài trợ đẻ đẩy
mạnh hoạt động bán hàng thì các nhà nhập khẩu cũng nảy sinh nhu cầu tài trợ để mua
hàng khi khả năng tài chính không đáp ứng đợc. Vì vậy, về phía nhà nhập khẩu cũng
hình thành nhu cầu tài trợ trên nhiều mặt.
+ Giai đoạn trớc khi ký kết hợp đồng: ở giai đoạn này các nhà nhập khẩu cần
có những chi phí cho việc thuê các chuyên gia phân tích chính xác nhu cầu của mình
để tiến hành đấu thầu một cách phù hợp.
+ Giai đoạn sau khi ký kết hợp đồng: Sau khi ký kết đợc hợp đồng, các nhà
nhập khẩu cần đợc tài trợ để đặt cọc hoặc tạm ứng cho nhà xuất khẩu. Ngoài ra, nhiều
khi nhà nhập khẩu còn phải nhờ ngân hàng đứng ra bảo đảm để tìm nguồn tài trợ ở n-
ớc ngoài.
+ Giai đoạn sản xuất và hoàn thành công trình: Trong giai đoạn này nhà nhập
khẩu có thể phải thực hiện những khoản thanh toán giữa chừng cho nhà xuất khẩu
hay tài trợ cho các công việc ở địa phơng để chuẩn bị cho đầu t.
+ Giai đoạn cung ứng và vận chuyển hàng hoá: Tuỳ theo điều kiện cung ứng
hàng hoá có thể nảy sinh nhiều phí tổn về vận chuyển và bảo hiểm đối với các nhà
nhập khẩu.
+ Nhận hàng hoá: Nếu tiến hành thanh toán cung ứng hàng hoá khi xuất trình
chứng từ (có th tín dụng kèm theo hoặc theo điều kiện D/P) thì thờng nhà nhập khẩu
chỉ có thể nhận đợc hàng khi giá trị trên hoá đơn đã ghi rõ hoặc có thể tài trợ đợc.
+ Xử lý tiếp, bán tiếp, tài trợ tiêu thụ: Đối với hàng hoá chủ định bán tiếp thì
nhà nhập khẩu còn có nhu cầu tài trợ giữa chừng cho khoảng thời gian nhập hàng về
tới khi hàng hoá đợc tiêu thụ.
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nếu sản phẩm là những dây chuyền công nghệ để sản xuất thì nhà nhập
khẩu sẽ có nhu cầu đợc tài trợ cho giai đoạn từ khi sản xuất sản phẩm mới tới khi tiêu
thụ đợc các sản phẩm làm ra và thu đợc tiền hàng.
4. Mối quan hệ giữa hoạt động xuất nhập khẩu với hoạt động kinh doanh
đối ngoại của Ngân hàng thơng mại:
Trong hoạt động xuất khẩu cũng diễn ra quá trình sản xuất, lu thông hàng hoá
nh các ngành kinh tế với mục đích cuối cùng là thực hiện giá trị hàng hoá. Nó chỉ có
điểm khác biệt là việc mua bán diễn ra giữa các đối tác có quốc tịc khá nhau, hàng
hoá đợc vận chuyển từ nớc này sang nớc khác, đồng tiền thanh toán có thể là ngoại
tệ. Chính vì vậy khâu cuối cùng của hoạt động xuất nhập khẩu là khâu thanh toán
cũng có những điểm khác với thanh toán trong nớc thực hiện trên cơ sở sau:
Ngời xuất khẩu và ngời nhập khẩu ký kết hợp đồng mua bán ngoại thơng trong
đó quy định các điều kiện về thanh toán quốc tế:
- Điều kiện về thời gian.
- Điều kiện về địa điểm.
- Điều kiện về phơng thức thanh toán.
Trên cơ sở đó, ngời xuất khẩun sẽ tiến hành giao hàng, sau đó sẽ ký phát hối
phiếu, séc của ngời nhập khẩu gửi đến ngân hàng nớc mình nhờ thu hộ tiền ghi trên
các phơng tiện thanh toán đó. Các ngân hàng này chuyển các phơng tiện thanh toán
đến các ngân hàng nớc nhập khẩu để thu hộ.
Nh vậy, cơ sở để hình thành hoạt động kinh doanh đối ngoại của ngân hàng th-
ơng mại là hoạt động ngoại thơng. Nói đến ngoại thơng là nói đến thanh toán quốc tế.
Nếu thanh toán quốc tế đợc thực hiện tốt thì giá trị hàng hoá xuất nhập khẩu mới đợc
thực hiện tốt, thúc đẩy tài trợ ngoại thơng góp phần không nhỏ cho việc đa ngoại th-
ơng phát triển và là yếu tố quan trọng để đánh giá quan hệ kinh tế quốc tế đối với sự
phát triển của một quốc gia.
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
IV.các hình thức và quy trình tín dụng tài trợ xuất
nhập khẩu trên thế giới.
Để thu hút khách hàng mỗi ngân hàng bên cạnh việc thực hiện theo đúng quy
định của pháp luật đều cố gắng tạo ra sự khác biệt cho ngân hàng của mình. Đối với
hoạt động tín dụng hỗ trợ xuất nhập khẩu cũng vậy, dựa vào tiềm lực của mình cùng
với mục tiêu thu hút khách hàng, tối đa hoá lợi nhuận, phân tán rủi ro các ngân hàng
cũng lựa chọn các hình thức tín dụng khác nhau đáp ứng kịp thời mọi nhu cầu tài
chính. Ngân hàng đã trở thành một ngời bạn đồng hành không thể thiếu của các
doanh nghiệp, tổ chức kinh tế trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
1. Các hình thức tín dụng tài trợ xuất khẩu:
Ngân hàng thơng mại cung cấp tín dụng cho các cơ sở xuất khẩu dới các hình
thức sau:
1.1. Tín dụng ứng trớc trong phơng thức nhờ thu kèm chứng từ.
Sau khi lập xong bộ chứng từ hàng hoá, vận chuyển, bảo hiểm nhà xuất khẩu
sẽ nộp lên ngân hàng của mình nhờ thu hộ tiền. Ngân hàng của nhà xuẩt khẩu sẽ
chuyển đến ngân hàng của nhà nhập khẩu (hoặc ngân hàng giao dịch) với chỉ thị giao
chứng từ khi đã thanh toán (điều kiện D/P) hoặc chấp nhận một hối phiếu đòi nợ kèm
theo (điều kiện D/A). Tuy vậy, thời gian để có tiền thanh toán do nhà nhập khẩu trả
làm cho xuất khẩu có thể thiếu vốn tạm thời. Nhà xuất khẩu lúc này có thể yêu cầu
ngân hàng đáp ứng một phần giá trị bộ chứng từ nhờ thu làm đảm bảo.
Tín dụng ứng trớc trong phơng thức nhờ thu gần giống với chiết khấu
chứng từ nhng có một số điểm cần phân biệt nh sau:
- Ngân hàng không cho vay toàn bộ giá trị hối phiếu mà chỉ đáp ứng trớc một
phần.
- Nhà xuất khẩu không phải chịu tỷ lệ chiết khấu 10% chi phí hối phiếu nh
chiết khấu vì nhà xuất khẩu chỉ cần một phần giá trị hối phiếu.
- Tín dụng ứng trớc trong phơng thức nhờ thu có thể xem nh chiết khấu từng
phần, nhà xuất khẩu sử dụng hình thức này để tìm kiếm nguồn tài trợ ngắn
hạn phục vụ nhu câu tiền mặt tạm thời.
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.2. Tín dụng ứng trớc trong phơng thức tín dụng chứng từ.
Trong hình thức thanh toán bằng th tín dụng, nhà xuất khẩu là ngời đợc hởng
lợi. Khi có toàn bộ chứng từ thanh toán trong tay, nhà xuất khẩu có thể sử dụng L/C
để thế chấp mở L/C khác cho ngời hởng lợi khác (L/C giáp lng) hoặc nhà xuất khẩu
có thể đến các ngân hàng thanh toán để chiết khấu các hối phiếu của bộ chứng từ th
tín dụng, ngoài ra với một L/C cho phép bán lại chứng từ đòi tiền nhà nhập khẩu hoặc
dới dạng chuyển nhợng toàn bộ quyền sở hữu một th tín dụng trả chậm thì nhà xuất
khẩu có thể nhận đợc một khoản tín dụng từ ngân hàng.
Tín dụng ứng trớc trong phơng thức tín dụng chứng từ khi sử dụng L/C điều
khoản đỏ, nhà xuất khẩu sẽ có một khoản tiền ứng trớc của nhà nhập khẩu vào thời
điểm xác định trớc khi xuất trình toàn bộ chứng từ hàng hoá, các điều khoản ứng trớc
thờng đợc quy định trong một điều kiện thuận lợi cho các bên thực hiện.
Điều khoản này yêu cầu ngân hàng thông báo hay ngân hàng xác nhận cấp cho
nhà xuất khẩu một khoản tín dụng trớc khi giao hàng. Nhà xuất khẩu chịu chi phí liên
quan còn ngân hàng mở L/C chịu trách nhiệm về khoản ứng trớc, vật bảo đảm của
nhà xuất khẩu khi nhận tiền ứng trớc.
Ngân hàng thông báo hoặc ngân hàng xác nhận sẽ thu hồi số tiền ứng trớc
cùng với lãi sau khi ngân hàng mở L/C thanh toán (nếu có bộ chứng từ phù hợp). Nếu
nhà xuất khẩu vì một lý do nào đó không xuất trình đợc chứng từ phù hợp với điều
kiện của L/C, các ngân hàng cũng có quyền đòi số tiền này ở ngân hàng mở L/C.
1.3. Tín dụng chiết khấu hối phiếu.
ở hình thức này ngân hàng mua lại hối phiếu trớc khi đến hạn thanh toán tức là
mua lại các khoản nợ phải đòi.
Lợng tín dụng mà ngân hàng cấp cho khách hàng là giá trị hối phiếu sau khi
trừ đi chi phí chiết khấu và các khoản lệ phí Chi phí chiết khấu đ ợc xác định theo
công thức:
T
ck
= M *
(1-

L
ck

*
t ) P
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
36.000
T
ck
: Giá trị chiết khấu M: mệnh giá hối phiếu
P: Lệ phí t: thời gian chiết khấu
L
ck
: lãi chiết khấu
Trong các yếu tố trên, ngời ta quan tâm nhất đến lãi suất chiết khấu, tỷ lệ này
phụ thuộc vào khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu, thời hạn thanh toán, hình thức
và giá trị hối phiếu.
Ưu điểm:
- Tạo điều kiện thuận lợi cho nhà xuất khẩu trong việc tái đầu t đối với khoản
tín dụng cung ứng.
- Đối với nhà nhập khẩu thì có u điểm đó là khả năng truy đòi đợc khoản tiền
chiết khấu khi hối phiếu không đợc thanh toán vào ngày đến hạn.
Những quy định của luật hối phiếu vẫn cho phép ngân hàng truy thu khoản nợ
từ ngời xuất trình hối phiếu (nó nh một dạng tín dụng ứng trớc cho ngời xuất khẩu).
Hình thức tín dụng này rất phổ biến ở các nớc, đây là loại tín dụng thông thờng
nhất trong hoạt động ngoại thơng.
Quy trình chiết khấu hối phiếu:
1
2
10b
3 4 7 8 10
10a
14
Nhà xuất khẩu Nhà nhập
khẩu
Ngân hàng
nhà NK
Ngân hàng
nhà XK

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét