thuật - công nghệ hướng tới nền sản xuất hàng hoá và đạt được nhiều tiến bộ đángg
kể.
Thế nhưng ở trong phạm vi của từng vùng trong nước thì không hẳn thế. Do
có sự phát triển không đều giữa các vùng trong nước, quá trình đó diễn ra ở các
vùng không giống nhau: ở vùng kinh tế phát triển , quá trình đó diễn ra theo trình tự
chung còn ở vùng kinh tế kém phát triển, quá trình đó có thể bắt đầu từ việc phá thế
độc canh hoá chuyển sang đa canh lúa, màu phát triển chăn nuôi và bước tiếp theô là
phát triển các ngành nghề tiều, thủ công nghiệp và dịch vụ. Xu hướng chung của sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn là: tỷ trọng nông nghiệp
ngày càng giảm và tỷ trọng các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
ngày càng tăng.
Bên cạnh đó, để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn còn
phải có sự quan hệ rất nhiều tới các ngành khác như phát triển nông nghiệp hàng
hoá phải chịu sự tác động mạnh mẽ của công nghiệp và nông nghiệp không thể tự
đi lên nếu không có sự tác động trực tiếp của một nền công nghiệp phát triển. Và
được các ngành nghề mới trong nông nghiệp.
Trong nông nghiệp và nông thôn, đi cùng với sự chuyển dịch cơ cấu nông
nghiệp và nông thôn là sự phân công lao động cũng được diễn ra. Từ lao động trồng
lúa chuyển sang lao động trồng hoa màu chăn nuôi, làm các ngành nghề tiểu thủ
công nghiệp và dịch vụ, nó không chỉ phụ thuộc vào phục vụ cho cả nhu cầu phát
triển nông nghiệp mà còn phục vụ cho cả nhu cầu phát triển công nghiệp, thương
nghiệp và các ngành doanh nghiệp khác.
Từ thế kỷ 20 đã chứng minh và xác định khoa học kỹ thuật công nghệ phát
triển và đổi mới như vũ bão, tính cộng đồng trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
ngày càng cao, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một nước không thể tách rời với
sự phát triển kinh tế của cộng đồng quốc tế hay cũng như không thể tách rời sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn với cơ cấu kinh tế vùng và cơ
cấu kinh tế chung của cả nước.
Mặt khác, sự phân hoá giàu nghèo ở nông nghiệp và nông thôn không thể
tránh khỏi, nó diễn ra theo hướng : khi sản xuất hàng hoá kém phát triển thì khoảng
cách đó tương đối doãng ra, khi sản xuất hàng hoá phát triển ở trình độ cao thì
Trang 5
khoảng cách đó thu hẹp laih và có thể trở lại khoảng cách ban đầu (nhưng ở trình độ
cao hơn). Điều đó chứng tỏ sự phân hoá giàu nghèo vừa là kết quả, vừa là động lực
thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Thêm vào đó, ở đâu có trình độ dân trí thấp thì ở đó việc xác lạp và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế đương nhiên là gặp nhiều khó khăn và khó tránh khỏi sai lầm .
Điều này cũng chứng tỏ rằng với với trình độ dân trí hay mặt bằng trong giáo dục có
chịu sự ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp và nông thôn.
2. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
a. Kinh nghiệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Đài Loan.
Ta biết rằng Đài Loan là một lãnh thổ nhỏ với 2/3 là đồi núi, đất canh tác chỉ
có gần 900.000 ha, khí hậu á nhiệt đối và nhiệt đới, bởi vậy cơ cấu nông nghiệp rất
đa dạng, phong phú như trồng trọt có lúa nước, lúa mì, khoai lâng, khoai tây, lạc,
chuối…. Về chăn nuôi có lợn, gàm vịt , trâu, bò… Ngư nghiệp có điều kiện thuận
lợi để phát triển, nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản, có những sản phẩm xuất khẩu
có giá trị như tôm, cá…
Tuy vậy, cho đến giữa thế kỷ xét xử, nông nghiệp Đài Loan vẫn ở tình trạng
lạc hậu, sản xuất tiểu nông tự cấp, tự túc. Từ đầu những năm 1950 đến nay cơ cấu
nông nghiệp Đài Loan, do có sự tác động của công nghiệp hoá, đã có một bước
phát triển mạnh mẽ, cơ cấu nông nghiệp đã chuyển dịch theo hướng sản xuất nông
sản hàng hoá, hướng về về xuất khẩu, và đã đạt được những thành tựu to lớn trong
thời kỳ công nghiệp hoá. Quá trình đó của Đài Loan được chia làm 3 thời kỳ.
*Thời kỳ thứ nhất:
Cơ cấu nông nghiệp trong thời kỳ khôi phục kinh tế sau chiến tranh chuẩn bị
công nghiệp hoá (1949-1953).
Trong thời kỳ này, Đài Loan bắt đầu thực hiện cải cách ruộng đất do chính
quyền Quốc Dân Đảng thực hiện trong 4 năm (1949-1953) với nội dung: giảm tô từ
50-60% xuống 37,5% (1949), chính quyền đem 130.000 ha ruộng công bán cho
177.000 hộ nông dân thiếu ruộng (1951), ban chấp hành "luật người cày ruộng:
(1953), trưng mua số ruộng đất quá hạn mức của địa chủ bán cho nông dân thiếu
ruộng.
Trang 6
Điều trên đã tạo điều kiện chuyển dịch nền kinh tế nông nghiệp phong kiến
tiểu nông sang nền kinh tế nông nghiệp sản xuất hàng hoá Tư bản chủ nghĩa, dọn
đường cho công nghiệp hoá. Kết quả, sản xuất nông nghiệp 1952 đạt 129,7% so
với năm 1940-19443 (thời kỳ kinh tế thịnh vượng trước đây). Cơ cấu nông nghiệp
thời kỳ này vẫn là cơ cấu truyền thông. Năm 1953, trong cơ cấu nông nghiệp, giá
trị sản lượng trồng trọt chiếm 71,9%, chăn nuôi chiếm 15,6%, thuỷ sản chiếm 7,4%,
lâm nghiệp chiếm 5,1%. Trong ngành trồng trọt: lua chiếm 58,7 %, mì màu 13,3%,
cây công nghiệp 19,7%, rau 4,8, quả 3,5%. Trong ngành nông sản xuất khẩu năm
1952 đạt 114 triệu USD chiếm 95,5% kim ngạch xuất khẩu. Nó đánh dấu bước
ngoặc đầu tiên của sản xuất nông nghiệp chuyển từ hướng nội thuần tuý sang hướng
ngoại.
* Thời kỳ thứ hai
Cơ cấu nông nghiệp trong thời kỳ phát triển nông nghiệp để nuôi dưỡng
công nghiệp (1953-1968): Đây là thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hoá ở Đài
Loan nó được thực hiện trong 4 kế hoạch phát triển kinh tế quốc gia (NEDP)
Trang 7
Biểu 1: Cơ cấu nông nghiệp thời kỳ 1953-1968
Năm Giá trị sản lượng
nông nghiệp
Trồng trọt Chăn nuôi Ngư nghiệp Lâm nghiệp
1953 10.390 (1) 71,9% 15,6% 7,4% 5,1%
1968 48.883 60,1% 23,0% 10,6% 6,3%
(1) Triệu đồng Đài Loan.
Với chức năng phát triển nông nghiệp để nuôi dưỡng công nghiệp trong thời
gian 1953-1968, nông nghiệp Đài Loan tập trung vào các mục tiêu:
-Nâng cao nông nghiệp bằng đa dạng hoá sản phẩm và cạnh tranh để đảm
bảo nhu cầu dinh dưỡng cho nhân dân.
-Mở rộng xuất khẩu nông sản phẩm phục vụ công nghiệp hoá .
-Cung cấp nguyên liệu và lao động cho công nghiệp để phát triển công
nghiệp hoá.
Kết quả: sản phẩm trồng trọt chính (lúa, mía, rau quả) tăng từ 60-400%,
năng suất cấy trồng từ 50-200%, sản lượng thuỷ sản tăng 400%, lâm sản tăng
50%-120%. Kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản đạt 266,590 triệu USD, tăng
220%. Điểm chủ ý ở đây là cơ cấu nông nghiệp trong thời kỳ 1953-1968 đã có sự
chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hoá. Giá trị sản lượng nông, lâm ngư
nghiệp năm 1968 tăng 5 lần so với 1953, cơ cấu giá trị chăn nuôi tăng từ 15,6% lên
23%, ngư nghiệp từ 7,4%-10,6%, lâm nghiệp từ 5,1%-6,3%.
* Thời kỳ thứ ba
Cơ cấu nông nghiệp trong thời kỳ phát triển công nghiệp để hỗ trợ nông
nghiệp (1961 đến nay). Một trong những nội dung chủ yếu trong thời kỳ này là tiếp
tục chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp cho phù hợp với yêu cầu và khả năng của công
nghiệp hoá.
Số trang trại gia đình bắt đầu giảm, lao động nông nghiệp giảm từ 1,6 triệu
(1969) xuống 1,09 triệu (1991). Tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng số lao
động xã hội giảm từ 38,9% (1969) xuống 12,9% (1991).
Diện tích canh tác giảm 914 ha (1969) xuống 883540 ha (1991). Giá trị sản
lượng nông nghiệp tăng 47731 triệu Đài Loan (1969) lênhà nước 234185 triệu
Trang 8
(1981). Kim ngạch xuất khẩu nông sản tăng 297 triệu USD (1969) lên 10,042 tỷ
USD (1991).
Biểu 2: cơ cấu giá trị sản lượng nông nghiệp (1968-1981)
Năm Giá trị Sl (1)
nông nghiệp
Tỷ trọng giá trị sản phẩm (%)
Trồng trọt Chăn nuôi Ngư nghiệp Lâm nghiệp
1968 48833 60,1 23 9,5 5,6
1981 234185 47,1 29,5 21,4 2,0
(1) triệu đồng Đài Loan
Kế hoạch của Đài Loan từ nay đến sau năm 2000 là tiếp tục chuyển dịch nền
kinh tế nông nghiệp theo phương hướng chọn được cơ cấu nông nghiệp hợp lý
trong điều kiện công nghiệp phát triển đạt trình độ cao, đất đai và lao động đất ở
trong nước tập trung và sản xuất. Kế hoạch của Đài Loan từ nay đến sau năm 2000
là tiếp tục chuyển dịch chuyển nền kinh tế nông nghiệp theo hướng chọn được cơ
cấu nông nghiệp hợp lý trong điều kiện công nghiệp phát triển đạt trình độ cao, đất
đai và lao động đất ở trong nước tậ trung vào sản xuất các sản phẩm cần ít đất đai,
lao động, đem lại giá trị kinh tế và lợi nhuận cao và tìm cách xuất khẩu vốn công
nghệ , chuyên gia nông nghiệp ra các nước ngoài, có đất đai và lao động rẻ hơn, để
sản xuất nông sản đưa về nước và đem xuất khẩu.
Kết luận:
+Trong thời gian từ 1949-1953 để mở đường cho công nghiệp hoá Đài Loan
đã thực hiện cải cách ruộng đất, chuyển phương thức sở hữu và sử dụng đất phong
kiến sang phương thức sử dụng ruộng đất tư bản chủ nghĩa.
+Đài Loan đã chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp từ hướng nội phục vụ nhu
cầu nhu cầu trong nước sang hướng ngoại phục vụ nhu cầu xuất khẩu nông sản.
+Đã chuyển dịch cơ cấu nông lâm ngư nghiệp cho phù hợp từng thời kỳ công
nghiệp hoá theo hướng tăng tỷ trọng sản phẩm chăn nuôi thuỷ sản, rau quả và giảm
tỷ trọng lương thực, lâm sản.
+Chuyển dịch lao động nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp ở thành thị
và nông thôn, tạo ra thu nhập cao hơn, đáp ứng nhu cầu cho công nghiệp.
+Chuyển dịch lao động động thủ công trong nông thôn sang lao động cơ khí
trên lao động chuồng trại và trong xí nghiệp chế biến nông sản.
Trang 9
+ Khi công nghiệp phát triển trình độ lao động cao, sẩn xuất nông nghiệp có
xu thế giảm sản xuất mọt số nông sản và thay thế bằng nông sản nhâp khẩu có lợi
cao, chuyển sản xuất nông nghiệp từ nội địa ra nước ngoài, nhằm vào đất nước có
đất đai và lao động rẻ để sản xuất và xuất khẩu nông sẩn từ nước ngoài có lợi hơn.
b. Kinh nghiệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Indonesia.
Với hơn 200 triệu dân và 70% dân cư sống ở nông thôn, ngành nông nghiệp
Indonesia có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nước. Vấn đề chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nnn1 của Indonesia quan tâm sâu sắc, trong đó chính sách phát
triển nông nghiệp tập trung sản xuất lương thực, thực phẩm vì mục tiêu an toàn
lương thực, thực phẩm và đề cao vai trò khu vực nông thôn.
Để thực hiện việc dễ dàng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
chính phủ nước này đã tăng cường phát triển cơ sở hạ tầng như đường sá, công trình
thuỷ lợi, nghiên cứu ứng dụng các loại giống cao sản… đều được trợ giá ở mức độ
khác nhau. Đây chính là điều kiện nhằm khuyến khích phát triển cho nền kinh tế
nông nghiệp.
Cơ cấu và diện tích cây trồng liên tục được mở rộng, chú trọng phát triển
những cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu ở các trang trại nhà nước và tư nhân.
Trong khu vực Đông Nam Á, Indonesia thực hiện khá tốt chính sách phát triển kinh
tế trang trại. Nhờ đó, Indonesia trở thành nước xuất khẩu ca cao, cà phê, chè hàng
đầu thế giới. Chính phủ nước này luôn cố gắng duy trì sự cần bằng tương đối giữa
nông nghiệp và những ngành công nghiệp, dịch vụ đưa khoa học kỹ thuật vào sản
xuất, thúc đẩy xuất khẩu, hỗ trợ giải quyết các yếu tố đầu vào, đầu ra cho sản xuất
nông nghiệp.
3. Các nhân tố ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
và nông thôn.
+Vị trí đại lý và khí hậu tự nhiên: ở những vị trí địa lý khác nhau và vùng khí
hậu khác , việc xác định cơ cấu kinh tế cũng khác nhau. Xác định cơ cấu kinh tế
nông nghiệp và nông thôn cũng có nghĩa là xác định cơ cấu kinh tế nông nghiệp và
nông thôn ở các vùng điều kiện địa lý và khí hậu tự nhiên khác nhau của nước ta.
Bởi vậy, cơ cấu kinh tế của một nước, một vùng bao giờ cũng dựa trên qu thế về điạ
lý và khí hậu của nước đó, vùng đó.
Trang 10
+Các nguồn lợi: bao gồm tài nguyên khoáng sản,nguồn nước, nguồn năng
lượng, đất đai… có hay không có, có nhiều hay có ít các tài nguyên này sẽ ảnh
hưởng rất lớn đến việc xác định cơ cấu kinh tế của một quốc gia nó chung và của
vùng đó nói riêng.
+Phong tục tập quán và truyền thống dân tộc: Đây là nhân tố vừa có tác dụng
thúc đẩy vừa có tác dụng kìm hãm. Một quốc gia nào hay một vùng nào đó ở đâu đó
có phong tục tập quán canh tác lạc hậu ví dụ như du canh, du cư thì ở đó có sự
chuyển đổi cơ cấu sản xuất diễn ra không thể nhanh chóng và suôn sẻ được. Ngược
lại, ở đâu có tập tụ, tập quán truyền thống sản xuất tiến bộ thì ở đó việc làm chuyển
biến cơ cấu kinh tế nói chung sẽ dễ dàng hơn.
+Trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ : với trình độ này càng cao thì sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ càng dễ dàng hơn và công nghệ hiện đại, tiên tiến đó
sẽ là một trong những điều kiện thuận lợi cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói
chung, nông nghiệp và nông thôn nói riêng.
+Con người: ta biết rằng cơ cấu kinh tế mang tính khách quan, thế nhưng
việc nó hình thành nhanh hay chậm , hợp lý hay không hợp lý, lại do tác động chủ
quan của con người. Bởi vì, con người là nhân tố có ý nghĩa quyết định trong việc
tiến hành cơ cấu kinh tế.
Ví dụ điển hình như Nhật Bản, một nước hiếm tài nguyên, đất nước vươn
lên ngang tầm với các nước phát triển nhất trên thế giới, một đất nước có nền kinh
tế, khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển.
4. Sự cần thiết phải công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp
Chuyển dịc cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp nói riêng theo hướng ngày càng tiến boọ là một xu thế tất yếu khách quan
của các nền kinh tế quốc gia khác nhau, nó vừa có những nét chung mang tính quy
luật và vừa có những nét riêng mang tính đặc thù phù hợp với yêu cầu và điều kiện
cụ thể của nền kinh tế mỗi quốc gia ấy trong từng thời kỳ lịch sử.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ là kết quả của sự phát triển trong cạnh
tranh trên thị trường, những ngành có hiệu quả cao sẽ phát triển ngày càng mạnh
mẽ, các ngành kém hiệu quả sẽ bị thu hẹp lại, mà việc chủ động thúc đẩy sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nói chung theo mục tiêu và nhu cầu của sự phát triển, gắn với dự
Trang 11
báo tiến bộ khoa học công nghệ và thị trường là một trong những khâu quyết định
tạo ra tăng trưởng kinh tế, ở những nước có công nghệ tiên tiến thì luôn tạo ra công
nghệ mới, còn ở những nước đang phát triển thì tiếp nhận chuyển giao công nghệ
tiên tiến, từ đó hình thành cơ cấu mới trong công nghiệp và trong nền kinh tế với các
ngành nghề mới, sản phẩm mới, tạo ra sức cạnh tranh cao và tăng trưởng nhanh.
Đất nước ta xuất phát và đi lên từ một nền nông nghiệp lạc hậu chính vì vậy
chúng ta phải tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn.
Trong nông nghiệp và nông thôn, đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá
sẽ thúc đẩy nông nghiệp phát triển vượt bậc. Thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại
hoá nông nghiệp, nông thôn sẽ thúc đẩy được nhiều vùng sản xuất hàng hoá tập
trung, chuyên canh như: lúa, cao su, cà phê, chè Hơn nữa, với ngành công nghiệp
chế biến nông, lâm thuỷ sản đã có những bước tăng trưởng đáng kể . Đó là điều
kiện nhằm thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn.
Trang 12
PHẦN II: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1985 ĐẾN NAY.
I. GIAI ĐOẠN TỪ TRƯỚC NĂM 1985-1988
Nông nghiệp nước ta trong giai đoạn này gặp rất nhiều những rào cản, vượt
qua tình trạng khủng hoảng và suy thoái kéo dài trong những năm 1976-1980.
Đến tháng 1-1980 - Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng ra đời lúc
đó với nhân dân khoán sản phẩm cây lúa đến nhóm người và hộ lao động (và đây
thực chất là khoán hộ). Chính vì vậy, đã được coi là chìa khoá vàng mở ra thời kỳ
mới của nông nghiệp và cả của kinh tế nông thôn. Những kết quả đạt được trong
giai đoạn này của sản xuất nông nghiệp là những thành tựu bước đầu hơn hẳn các
thời kỳ trước. Bình quân 5 năm 1981-1985 so với bình quân 5 năm 1976-1980 sản
lượng lương thực tăng 27%, riêng thóc tăng lên 32%, năng suất lúa tăng 23%, lương
thực bình quân đầu người tăng 14%, đàn trâu tăng 8%, đàn bò tăng 39%, đàn lợn
tăng 22%.
Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (5/4/1988) về đổi mới quản lý nông nghiệp
với nội dung cơ bản là khoán gọn đến hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông
thôn, đánh dấu sự mở đầu của thời kỳ đổi mới trong nông nghiệp và nông thôn
nước ta.
Sản xuất lương thực đã tăng lên với xu hướng năm sau cao hơn năm trước:
năm 1987 là 17,5 triệu tấn, 1988 là 19,6 triệu tấn. Trong gần 3 thập kỷ lương thực ở
nước ta luôn là vấn đề nóng bỏng, tình trạng thiếu lương thực diễn ra triền miên.
Riêng 13 năm (1976-1988) nước ta nhập khẩu 8,5 triệu tấn quy gạo, bình quân hàng
năm nhập 0,654 triệu tấn.
Mặt khác, nông nghiệp nước ta mang nặng tính độc canh (vào những năm
đấuau thời kỳ giải phóng). Diện tích cây lương thực năm 1976 chiếm 88,0% trong
đó lúa chiếm 75,2% tổng diện tích gieo trồng, các loại cây trồng khác chiếm tỷ trọng
diện tích còn thấp. Cây công nghiệp chiếm 6%, cây ăn quả 2%. Từ năm 1981 trở đi
lương thực có sự phát triển, vấn đề lương thực giảm bớt khó khăn cho nhân dân ta
trong nghiên cứu năm của thời kỳ đó.
Nông nghiệp trong thời gian này cũng đã có được sự đóng góp quan trọng
trong việc tăng nguồn hàng xuất khẩu, tăng thêm nguồn ngoại tệ cho đất nước với
Trang 13
quan điểm xuất khẩu để tăng trưởng kinh tế, do vậy, kinh tế nước ta đã có những
tiến bộ khởi sắc và chuyển biến tích cực. Năm 1986 giá trị xuất khẩu nông lâm thuỷ
sản đạt 513 triệu rúp-đo la.
Có được những bước đầu khởi sắc của giai đoạn gần thập niên 90 này là do
sự chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta nhằm từng bước phát triển nền kinh
tế nói chung và phát triển nông nghiệp nói riêng. Trong giai đoạn này, việc chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp mới bắt đầu được hình thành song vẫn chưa được
quan tâm đúng mức vì do điều kiện kinh tế nước ta tác động. Nông nghiệp ta thời
kỳ này vẫn độc canh là chủ yếu, cây trồng vật nuôi mới chỉ là "có sự góp mặt" còn
chủ yếu là lúa, hoa màu cho ta năng xuất thấp khiến nước ta vẫn phải nk lương thực,
thực phẩm.
II. GIAI ĐOAHN TỪ NĂM 1989 ĐẾN NĂM 1994
1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
a. Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Trong giai đoạn này, Đảng ta luôn luôn khẳng định sự phát triển kinh tế nước
ta phải dựa trên cơ sở kết hợp một cách đúng đắn giữa công nghiệp, nông nghiệp,
dịch vụ.
Trong hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ, khoá VII họp tháng 12
năm 1993 đã xác định "từ nay đến cuối thập kỷ phải rất quan tâm đến công nghiệp,
hiện đại hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn, phát triển toàn diện nông, lâm ngư
nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản, công nghiệp sản xuất
hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu…" (Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiệnn Hội
nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII, Tháng 1 năm 1994). Trước đó nhà
nước ta đã có chính sách ưu tiên , phát triển cho nông nghiệp và nông thôn, tạo điều
kiện cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
Tháng 1 năm 1980, chỉ thị 100 của Ban chấp hành bí thư Trung ương Đảng
với nội dung khoán sản phẩm cây lúa đến nhóm và người lao động (thực chất là
khoán hộ). Đây là chìa khoá vàng mở ra thời kỳ mới của nông nghiệp và kinh tế
nông thôn cho nước ta.
Tiếp đến là Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (5-4-1988) về đổi mới quản lý
nông nghiệp với nội dung cơ bản là khoán gọn đến hộ nông dân, thừa nhận hộ nông
Trang 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét