luỹ chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân cũng như tĩch luỹ riêng của từng
doanh nghiệp dân doanh còn rất nhỏ bé.
Trước hết, chúng ta xem xét mâu thuẫn giữa cơ chế kinh tế mới theo xu
hướng hội nhập với Khu vực và Thế giới và quy mô quá nhỏ bé của các
doanh nghiệp đã được hình thành ở nước ta. Các doanh nghiệp dân doanh với
quy mô nhỏ và rất nhỏ đương nhiên không thể có vốn để đầu tư nhà xưởng,
công nghệ cũng như trang thiết bị hiện đại, và đương nhiên cũng không thể có
tài sản thế chấp để vay vốn ngân hàng mở rộng đầu tư. Nếu so sánh số vốn
bình quân của một doanh nghiệp dân doanh với giá trị một chiếc xe ôtô con
( 200 triệu đồng tương đương với giá trị một chiếc xe con rẻ tiền, còn 650
triệu đồng tương đương với giá trị một chiếc ôtô con loại khá ) mới thấy khả
năng về vốn của doanh nghiệp dân doanh của nước ta quá eo hẹp. Quy mô
nhỏ của doanh nghiệp nước ta thể hiện ở ngay cả với hệ thống các doanh
nghiệp nhà nước: Các Tổng công ty đã thu hút 2000 doanh nghiệp nhà
nước, chiếm 1/3 số DNNN với số vốn là 60.000 tỷ đồng, bằng 95% tổng số
vốn của doanh nghiệp trung ương và bằng 74% tổng số vốn của toàn bộ
DNNN. Như thế, khoảng 4000 DNNN còn lại của nền kinh tế quốc dân cũng
chỉ có tổng số vốn bằng 26% tổng số vốn của DNNN – các DNNN này cũng
chỉ là các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ. Trong khi cơ chế kinh tế mới- cơ
chế kinh tế mở, nước ta phải từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và
thế giới của nước ta đòi hỏi bức bách vai trò chủ đạo, làm hạt nhân dẫn dắt
các doanh nghiệp dân doanh của các DNNN.
Thứ hai, cơ chế kinh tế mới theo hướng hội nhập vào nền kinh tế khu
vực và quốc tế đòi hỏi chúng ta phải đổi mới cơ cấu kinh tế, vì cơ cấu kinh tế
cũ dựa trên cơ sở “ ưu tiên phát triển công nghiệp nặng ” đã không còn thích
hợp. Xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý về cơ cấu kinh tế ngành và tính hợp
lý về cơ cấu kinh tế vùng ở các giai đoạn phát triển của đất nước. Yêu cầu xây
dựng một cơ cấu kinh tế mới, hợp lý trong phạm vi nền kinh tế quốc dân lại
mâu thuẫn với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của từng thành viên kinh tế. Nói
cách khác không
phải lúc nào lợi ích của từng thành viên kinh tế ( tối đa hoá lợi nhuận ) cũng
phù hợp với lợi ích của toàn xã hội ( lợi ích xã hội đạt tối đa ). Trong bối cảnh
đó, chỉ có Nhà nước sử dụng các doanh nghiệp do mình lập ra ( DNNN ) mới
có thể điều hoà được sự bất cập trong cơ chế kinh tế theo phương châm ở
ngành nào, vùng nào có nhu cầu mở rộng năng lực sản xuất mà doanh nghiệp
dân doanh không làm thì DNNN phải làm. Có như thế mới có thể nói đến việc
hình tành một cơ chế kinh tế hợp lý trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
Thứ ba, cơ chế kinh tế mới ở nước ta đòi hỏi phải quản lý nền kinh tế
nói chung và các hoạt động kinh tế nói riêng bằng pháp luật. Đây là một vấn
đề hoàn toàn không đơn giản, vì trong nhiều năm qua chúng ta ít chú ý đến
5
vấn đề này, ý thức chấp hành pháp luật của mỗi chủ thể kinh doanh còn quá
thấp. Vấn đề càng phức tạp hơn khi số lượng các chủ thể kinh doanh quá
nhiều, khi mà các doanh nhân đủ loại: có nhiều người đã được đào tạo, am
hiểu pháp luật và kiến thức quản trị kinh doanh, và cũng có rất nhiều người
tham ra vào quá trình kinh doanh song còn thiếu cả ý thức và kiến thức cần
thiết. Trong tình hình đó, các DNNN trở thành lực lượng gương mẫu, đi đầu
trong việc thực hiện pháp luật nói chung và luật kinh doanh nói riêng. Thực
hiện nghiêm chỉnh luật pháp, hướng dẫn các vệ tinh của mình cùng thực hiện
luật pháp là một đòi hỏi tất yếu của cơ chế kinh tế mới đối với các DNNN ở
nước ta.
Đương nhiên, khi các doanh nghiệp dân doanh lớn mạnh đến một mức
nào đó, khi ý thức kinh doanh theo pháp luật cũng như việc thực hiện pháp
luật của các doanh nghiệp dân doanh ngày càng cao thì vai trò của DNNN
trong lĩnh vực này cũng thay đổi theo.
2. DNNN đóng vai trò là công cụ thực hiện chức năng điều tiết.
Với đặc trưng của kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa thì các đơn vị kinh doanh hoạt động theo cơ chế
thị trường, Nhà nước đóng vai trò điều tiết nền kinh tế theo định hướng xã hội
chủ nghĩa. Về nguyên tắc, trong cơ chế kinh tế đó mỗi đơn vị kinh doanh là
một chủ thể kinh tế, trực tiếp đối mặt với thị trường để quyết định các vấn đề
kinh tế cơ bản: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? theo
mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Điều này tất yếu dẫn đến kết cục là ở đâu, khi
nào, đối với mặt hàng nào có thể đem lại lợi nhuận cao thì ở đó, khi đó các
doanh nghiệp có khả năng sẽ đổ xô vào sản xuất và kinh doanh mặt hàng đó
và ngược lại, nếu ở đâu, khi nào và đối với mặt hàng nào không có lãi hoặc lỗ
vốn thì ở đó, khi đó sẽ có nhiều doanh nghiệp có khả năng rút khỏi thị
trường sản xuất và kinh doanh mặt hàng đó. Do sự hạn chế của mỗi doang
nghiệp về việc thu thập cũng như xử lý các thông tin cần thiết về thị trường để
quyết định có tham gia hay rút khỏi một
thị trường kinh doanh nào đó, tất sẽ dẫn đến nguy cơ có thể phát sinh mâu
thuẫn giữa cung và cầu ở mọi lúc mọi nơi và đối với mọi m,ặt hàng. Để chống
lại nguy cơ đó, Nhà nước phải thực hiện chức năng điều tiết bằng nhiều công
cụ khác nhau, trong đó DNNN được coi là một công cụ.
Đóng vai trò là công cụ điều tiết thứ nhất, các DNNN ở nước ta được
hình htành ở các lĩnh vực sản xuất kinh doanh được coi là không hấp dẫn bởi
khả năng sinh lời thấp. Chẳng hạn là khu vực sản xuất sản phẩm công cộng.
Thực hiện chức năng điều tiết của DNNN theo hướng này tạo ra tính cân đối
giữa các ngành của nền kinh tế quốc dân. Với tư cách là công cụ điều tiết,
việc hình thành và sự tồn tại của các DNNN trong lĩnh vực sản xuất kinh
doanh nào đó không cố định, luôn được nhà nước thực hiện theo phương
6
châm: Ở đây, khi nào nền kinh tế quốc dân đang cần mở rộng sản xuất kinh
doanh một mặt hàng cụ thể nào đó mà các doanh nghiệp dân doanh hoặc
không đủ sức kinh doanh hoặc từ chối thì ở đó và khi đó cần sự có mặt của
DNNN. Đến lúc nào đó, khi các doanh nghiệp dân doanh đã đủ sức đáp ứng
nhu cầu thị trường, DNNN có thể rút khỏi thị trường đó, nhường cho các
doanh nghiệp dân doanh. Quá trình đó diễn ra một cách liên tục, lặp đi lặp lại
ở mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân hình thành vai trò của DNNN.
Thứ hai, chức năng điều tiết của DNNN còn thể hiện ở việc điều tiết
kinh tế trong phạm vi từng vùng. Ở từng vùng cũng diễn ra hiện tượng các
doanh nghiệp dân doanh chỉ đổ xô vào kinh doanh các mặt hàng dễ sinh lợi
nhuận, nên dẫn đến mất cân đối trong sản xuất kinh doanh vùng. Chính
DNNN cũng phải xuất hiện ở các ngành mà những vùng kinh tế của đất nước
đang đòi hỏi nhằm điều tiết cung cầu ở các vùng đó. Chức năng điều tiết kinh
tế vùng của DNNN đặc biệt quan trọng đối với các vùng xa, vùng sâu và vùng
nông thôn.
Như vậy chức năng điều tiết nền kinh tế quốc dân đòi hỏi Nhà nước
phải sử dụng DNNN như một công cụ cần thiết nhằm đảm bảo cho nền kinh
tế luôn hoạt động thông suốt, đảm bảo lợi ích xã hội có thể đạt được tối đa
trong cơ chế kinh tế thị trường. Tính hiệu quả lại đòi hỏi Nhà nước chỉ sử
dụng DNNN như công cụ điều tiết ở những nơi, vào những thời điểm cần
thiết. Điều này có nghĩa là không có quan niệm cố định về việc sử dụng
DNNN với tư cách là một công cụ điều tiết nền kinh tế mà đòi hỏi các DNNN
khi ra đời, tồn tại, mở rộng, thu hẹp một cách hết sức linh hoạt tuỳ theo sự
biến động của kinh doanh nói chung và của kinh doanh trong lĩnh vực dân
doanh nói riêng.
3. Xuất phát từ định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Nhận thức rõ các ưu điểm và hạn chế của kinh tế thị trường, chủ
trương của Đảng ta là không phủ nhận mà thừa nhận kinh tế thị trường, song
không phải
là chủ trương xây dựng kinh tế thị trường đơn thuần mà là kinh tế thị trường
có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Muốn
xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đương nhiên
phải xây dựng một lực lượng kinh tế nào đó đóng vai trò chủ đạo, làm tâm
điểm ảnh hưởng đến các lực lượng khác của nền kinh tế, hướng dẫn, hỗ trợ
các lực lượng kinh tế khác cùng phát triển.
Chúng ta đều biết, hiện nay trong nền kinh tế quốc dân nước ta đang
tồn tại các đơn vị kinh tế quốc doanh và dân doanh dưới các hình thức pháp lý
là DNNN, doanh nghiệp liên doanh, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu
7
hạn, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã. Nếu xét trên phương diện kinh tế, lực
lượng kinh tế mạnh nhất, đang chiếm giữ những lĩnh vực then chốt và nắm
trong tay lượng vốn lớn nhất, công nghệ thiết bị hiện đại nhất, lực lượng lao
động tinh nhuệ nhất hiện nay là các DNNN. Nếu xét trên phương diện xây
dựng quan hệ sản xuất dựa trên cơ sở công bằng, dân chủ và văn minh thì
cũng chỉ DNNN đảm đương được vai trò chủ đạo, bởi vì:
Thứ nhất, như trên đã phân tích, do các doanh nghiệp dân doanh còn rất
nhỏ bé chưa quen và chưa có ý thức chấp hành pháp luật nên trong các hình
thức pháp lý của doanh nghiệp đang tồn tại hiện nay, DNNN là lực lượng
gương mẫu, đầu tàu trong việc thực hiện pháp luật của Nhà nước, là tấm
gương để các thành phần kinh tế khác hoc tập.
Thứ hai, để thực hiện xoá bỏ từng bước sự cách biệt giữa miền núi và
miền xuôi, có những vùng rất cần phát triển một số hoạt động kinh doanh
nâng cao đời sống kinh tế xã hội ở vùng đó, song do mục tiêu tối đa hoá lợi
nhuận, các doanh nghiệp dân doanh không hoặc rất ít chú ý đến lợi ích toàn
xã hội nên họ không sẵn sàng kinh doanh ở những vùng đó. Trường hợp này
cũng chỉ có thể đòi hỏi được DNNN làm được việc đó.
Thứ ba, xuất phát từ nhiệm vụ của nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa là hạn chế và tiến tới xoá bỏ sự phân hoá giàu nghèo, cũng
như sự vi phạm tính công bằng xã hội đòi hỏi Nhà nước phải sử dụng các
cộng cụ nhất định, một trong các công cụ đó chính là DNNN. Chính DNNN
là lực lượng đóng vai trò hạt nhân trong quá trình xây dựng một trật tự xã hội
mới công bằng, dân chủ và văn minh.
Để thực hiện vai trò hạt nhân, trước hết, nôi bộ DNNN phải xây dựng
và hoàn thiện môi trường văn hoá lành mạnh theo các mục tiêu hướng đích
cuả công ty, xây dựng tinh thần hợp tác giúp nhau trưởng thành toàn diện.
Mặt khác, trong doanh nghiệp phải tạo hình mẫu phân phối công bằng, hợp lý
các kết quả sản xuất kinh doanh nhằm động viên khuyến khích mọi người lao
động gắn bó, nhiệt
tình và quyết tâm vì doanh nghiệp. Cuối cùng, doanh nghiệp phải là nơi đào
tạo và rèn luyện người lao động mới: có kỷ luật, có kỹ thuật và có năng suất
cao góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của DNNN, đồng thời thực hiện
sự nghiệp CNH- HĐH theo đường lối của Đảng.
4. Xuất phát từ yêu cầu xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần trên cơ sở phát huy tiềm năng của mọi thành phần kinh tế.
Như đã trình bày ở phần trên, theo chủ trương nhất quán, lâu dài của
Đảng và Nhà nước ta là xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, nền kinh tế nước
8
ta đã có nhiều khởi sắc. Xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần sẽ
huy động và phát huy được tiềm năng và sức mạnh của mọi thành phần kinh
tế vào quá trình xây dựng kinh tế của đất nước. Tuy nhiên, không một nước
nào lại xây dựng và phát triển nền kinh tế của đất nước mình chỉ dựa trên các
đơn vị kinh tế cơ sở của nền kinh tế quốc dân- đều là các đơn vị kinh tế có
quy mô nhỏ bé. Trong khi đó, thực trạng nền kinh tế nước ta cho thấy quy mô
của các doanh nghiệp dân doanh hầu như đều rất nhỏ, mặt khác trong thời
gian phát triển ngắn, các doanh nghiệp dân doanh ở nước ta cũng chưa đủ sức
tích luỹ để trở thành các doanh nghiệp có quy mô đủ lớn có thể làm nòng cốt
cho sự phát triển của đất nước. Trong điều kiện, đó chỉ có các DNNN mới có
đủ điều kiện mở rộng quy mô, trở hành lực lượng nòng cốt, có đủ sức cạnh
tranh trong khu vực, tạo cơ sở, chỗ dựa để dẫn dắt các doanh nghiệp dân
doanh cùng phát triển. Việc phát triển các DNNN có quy mô đủ lớn cũng là
một đòi hỏi cấp bách của việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước
ta hiện nay. Điều cốt lõi trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện
nay ở nước ta là: xác định được một cơ cấu loại hình doanh nghiệp hợp lý,
sao cho loại hình nào cũng có vị trí, vai trò xứng đáng, cũng phát huy được
lợi thế và khai thác được khả năng để đóng góp thiết thực vào sự phát triển
kinh tế của đất nước. Theo đó, các DNNN phải tích lũy vốn phát triển trong
các lĩnh vực then chốt, quan trọng, chi phối nhiều mặt của đời sống kinh tế xã
hội. Cần từng bước hình thành các Tổng công ty Nhà nước, các tập đoàn kinh
doanh mạnh, tạo xương sống cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Phát triển đa
dạng các loại hình doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa, gắn với các vùng
nguyên liệu nhỏ lẻ, khai thác thế mạnh ở từng địa phương, làm địch vụ vệ tinh
cho các khu công nghiệp tập trung, các vùng kinh tế trọng điểm và cho các
DNNN quy mô lớn. Mặt khác, phát triển và củng cố các DNNN trong các lĩnh
vực kết cấu hạ tầng, các lĩnh vực tạo sản phẩm phục vụ sự phát triển của xã
hội, khắc phục khuyết tật của cơ chế thị trường và trong các lĩnh vực mà các
loại hình doanh nghiệp khác không được phép làm. Nguyên tắc cơ bản để
phát triển các loại hình doanh nghiệp là dựa vào tiêu chuẩn hiệu quả. Bất kỳ
lĩnh vực sản xuất kinh doanh nào mà pháp luật không cấm, nếu các doanh
nghiệp dân doanh làm có hiệu quả thì nên khuyến khích phát triển. Theo cách
này sẽ nâng cao hiệu quả tạo ra cơ cấu
doanh nghiệp hợp lý.
III. VAI TRÒ CHỦ ĐẠO, CHỦ LỰC CỦA DNNN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG.
1. Vai trò mở cửa cho mọi thành phần kinh tế khác.
- Trong cơ chế thị trường, để đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận các
doanh nghiệp dân doanh chỉ tập trung kinh doanh ở những ngành, những
vùng có hệ số sinh lời cao và hệ số rủi ro thấp; các doanh nghiệp này luôn né
tránh đầu tư vào một số ngành có hệ số sinh lời thấp và hệ số rủi ro cao, cũng
9
như các ngành đòi hỏi vốn đầu tư lớn. Đó trước hết là các vùng sâu, vùng xa
của đất nước. Trong tình hình đó đòi hỏi trước hết DNNN phải có mặt ở các
ngành, các vùng có mức sinh lời thấp, độ rủi ro cao và đòi hỏi vốn đầu tư lớn
để giải quyết sự mất cân đối giữa các ngành và các vùng của nền kinh tế quốc
dân. Sự có mặt của DNNN để xây dựng cơ sở hạ tầng ở các vùng sâu, vùng
xa sẽ là hạt nhân tạo các điều kiện tiền đề cho các loại hình doanh nghiệp
khác ra đời và phát triển. Ở các vùng sâu, vùng xa DNNN cần phải đảm nhận
chức năng mở đường cho các doanh nghiệp khác phát triển.
Ngoài các vùng sâu, vùng xa, cơ sở hạ tầng các vùng của nước ta hiện
nay nói chung còn ở trìng độ rất thấp kém. Với cơ sở hạ tầng như hiện nay
chúng ta chưa có đủ các điều kiện để các doanh nghiệp dân doanh sẵn sàng
đầu tư phát triển kinh tế. Trong khi đó, vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng rất lớn,
thu hồi vốn chậm, độ rủi ro cao nên không phải là đối tượng đầu tư của
doanh nghiệp dân doanh. Đương nhiên, DNNN cũng phải có mặt trong lĩnh
vực đầu tư này. Sự có mặt của DNNN trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản
đóng vai trò tạo ra các điều kiện tiền đề cần thiết để các doanh nghiệp khác có
thể hoạt động.
- Vai trò chủ đạo, chủ lực của DNNN ở nước ta còn thể hiện ở sự gương
mẫu thực hiện pháp luật. Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế nhiều thành
phần, nhiều loại hình doanh nghiệp tham gia vào hoạt động sản xuất kinh
doanh. Trong nền kinh tế đó, để đảm bảo cho các hoạt động kinh doanh phát
triển bình thường, Nhà nước phải ban hành hệ thống pháp luật cần thiết, trong
đó có pháp luật kinh tế, các đơn vị sản xuất kinh doanh phải thực hiện các
hoạt động kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật. Nhà nước đóng vai
trò trọng tài, tạo ra sân chơi bình đẳng cho mọi loại hình doanh nghiệp cạnh
tranh lành mạnh đối với các hoạt độgn kinh doanh. Trong điều kiện nền kinh
tế nước ta hiện nay do một số rất lớn doanh nghiệp dân doanh có quy mô nhỏ
và rất nhỏ, khi thành lập doanh nghiệp chủ doanh nghiệp không chỉ có rất ít
kiến thức pháp luật nói chung và pháp luật kinh tế nói riêng, mà nhiều người
trong số đó thậm chí thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Một thực tế hiển nhiên
hiện nay là nhiều doanh nhân nhận thức sai lầm
rằng có thể thu được nhiều lợi nhuận bất chấp pháp luật.
Xét trên giác độ tài chính có thể thấy rằng Nhà nước không giám sát
được tình hình tài chính của các doanh nghiệp, Nhà nước thất thu, thậm chí
ngân sách thất thu nặng, hiện tượng khoán thuế, “ đàm phán về mức thuế ”, “
làm luật “, trốn lậu thuế, gian lận thương mại xảy ra phổ biến, không tạo ra
được một luật chơi bình đẳng giữa các doanh nghiệp và doanh nhân. Trong
bối cảnh đó chỉ có DNNN mới có thể và cần phải là lực lượng tiên phong
trong việc kinh doanh theo pháp luật. Kinh doanh theo pháp luật của các
DNNN sẽ là tấm gương cho các doanh nghiệp khác noi theo.
10
- Vai trò của DNNN ở nước ta hiện nay còn có thể xem xét ở góc độ
đóng góp vào ngân sách nhà nước. Trong suốt quá trình phát triển nền kinh tê
nước ta từ trước đến nay, DNNN đã, đang và sẽ là lực lượng tạo ra nguồn thu
lớn nhất cho ngân sách nhà nước.
Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế nước ta hiện nay, DNNN còn
đóng góp đáng kể vào việc tạo ra các hình thức mới trong nền kinh tế quốc
dân. Đó là phần lớn các đối tác trong các doanh nghiệp liên doanh với nước
ngoài là DNNN, DNNN đi đầu trong các lĩnh vực công nghệ cao ( điện, điện
tử, bưu chính viễn thông ), đi đầu trong việc xây dựng các khu công nghiệp
tập trung, các khu công nghệ cao, các ngành mũi nhọn, then chốt. DNNN
cũng đảm nhiệm phần xây dựng cơ sở hạ tầng và xã hội, tạo đà cho phát triển
kinh tế lâu dài. Mặt khác, DNNN đang tích cực và đi đầu trong phát triển kinh
tế xã hội miền núi, vùng dân tộc ít người và có nhiều khó khăn góp phần
khắc phục chênh lệch về trình độ phát triển, tạo công bằng xã hội.
Trước hết đó là sự phát triển đa dạng hoá các loại quy mô kinh doanh
mà chủ yếu tập trung vào phát triển các loại hình sản xuất kinh doanh với quy
mô vừa và lớn. Mặc dù cho đến nay còn tồn tại rất nhiều các niệm khác nhau
về quy mô song có thể nói rằng, với trình độ phát triển kinh tế hiện nay của
nước ta không thể không tính đến việc phải phát triển loại hình sản xuất kinh
doanh với quy mô lớn ở một số lĩnh vực nhất định của nền kinh tế quốc dân
bởi rất nhiều lẽ: thứ nhất, trong xu thế hội nhập vào nền kinh tế khu vực và
thế giới hiện nay, chúng ta sẽ không thể tính đến sức cạnh tranh của các
doanh nghiệp nước ta nếu không xây dựng các doanh nghiệp ở một quy mô
nhất định nào đó, vì chỉ có các doanh nghiệp đó mới có thể có tiềm lực kỹ
thuật và sử dụng lợi thế về quy mô lớn, kỹ thuật hiện đại có thể tham gia vào
quá trình cạnh tranh kinh tế khu vực và thế giới. Thứ hai, trong khi chủ yếu
các doanh nghiệp nước ta vẫn đang ở trình độ thủ công, lạc hậu, hiệu quả kinh
tế thấp thì đòi hỏi của nền kinh tế hiện đại là phải phát triển kỹ thuật và ứng
dụng công nghệ, kỹ thuật hiện đại vào sản xuất. Nếu thiếu một số doanh
nghiệp làm hạt nhân có quy mô lớn thì không thể nói
đến nâng cao trình độ kỹ thuật của mọi doanh nghiệp đang hoạt động. Thứ ba,
trong điều kiện trình độ quản lý và ý thức pháp luật hiện thời, không thể
không tính đến việc khuyến khích phát triển doanh nghiệp ở một quy mô tối
thiểu nào đó vì như thế sẽ giảm bớt được số đầu mối càn phải quản lý. Như
vậy có thể nói nền kinh tế nước ta hiện nay đòi hỏi phải duy trì một số doanh
nghiệp có quy mô lớn ở một số lĩnh vực nhất định, chỉ có các DNNN mới có
đủ tiềm lực để đáp ứng đòi hỏi này. Bên cạnh đó, DNNN còn phát triển ở rất
nhiều các quy mô khác nhau và đặc biệt là ở quy mô vừa.
2. Kinh tế tạo động lực cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh
tế khác.
11
Vai trò tạo động lực cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế
khác phát triển được thể hiện chủ yếu qua các hướng sau đây:
Thứ nhất, thúc đẩy, tạo đà và dẫn dắt các doanh nghiệp dân doanh cùng
góp phần vào việc tăng trưởng kinh tế. Để tạo đà cho mọi doanh nghiệp cùng
góp phần vào quá trình tăng trưởng kinh tế, DNNN phải giữ vị trí then chốt
trong một số ngành cũng như một số lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế quốc
dân. Các ngành, các lĩnh vực tạo đà cho sự tăng trưởng kinh tế phụ thuộc
trước hết vào tiềm năng kinh tế của đất nước cũng như quá trình khu vực hoá
và toàn cầu hoá các hoạt động kinh tế. Chính vì vậy, để DNNN luôn luôn
đóng vai trò tạo đà cho sự tăng trưởng kinh tế, vấn đề hết sức quan trọng đặt
ra là phải xây dựng một chiến lược phát triển kinh tế theo hướng hội nhập,
trong đó xác định chính xác các ngành, các lĩnh vực then chốt trong từng thời
kỳ phát triển kinh tế của đất nươc. Khi vai trò tạo đà cho sự tăng trưởng kinh
tế đã thay đổi, Nhà nước cần chuyển dịch vốn đầu tư sang ngành mới.
Thứ hai, DNNN đóng vai trò thúc đẩy, chuyển giao và phát triển công
nghệ kỹ thuật hiện đại. Các ngành thuộc lĩnh vực này có liên quan với các
ngành đóng vai trò tạo đà, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Cần chú ý rằng trong
nhiều lĩnh vực việc chuyển giao công nghệ kỹ thuật hiện đại không phải và
không thể phát huy ngay được tác dụng trong một thời gian ngắn và cũng xảy
ra nhiều trường hợp trong đó việc chuyển giao công nghệ kỹ thuật hiện đại
vào ngành này sẽ tạo điều kiện thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật và tăng trưởng ở các
ngành khác có liên quan.
Thứ ba, vai trò giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Môi trường và bảo vệ
môi trường đang là vấn đề thời sự nóng hổi không phải chỉ đối với nước ta mà
đối với toàn thế giới và cũng không phải chỉ ngày một ngày hai mà là cả một
sự nghiệp lâu dài. DNNN cũng phải thể hiện vai trò chủ đạo của mình trong
việc giải quyết vấn đề này. Trước hết, việc nhập khẩu công nghệ kỹ thuật phải
đảm bảo giảm thiểu ô nhiễm môi trường. DNNN phải và chỉ được phép cung
cấp cho các doanh
nghiệp dân doanh công nghệ kỹ thuật đảm bảo chống ô nhiễm môi trường.
DNNN phải là lực lượng đi đầu trong việc chấp hành luật bảo vệ môi trường.
3. Tạo điều kiện các mối quan hệ hợp tác và giúp đỡ các doanh nghiệp
khác.
Như đã phân tích ở trên, nền kinh tế nước ta đến nay bao gồm chủ yếu
là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhiều doanh nghiệp có quy mô rất nhỏ, vốn
đầu tư thấp, kỹ thuật thủ công, lạc hậu. Đặc điểm này dẫn đến kết quả là cho
đến nay phần lớn các doanh nghiệp nước ta không đủ khẳ năng sản xuất một
sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh với kỹ thuật cao; thông thường mỗi doanh
nghiệp dân doanh chỉ đủ sức làm vệ tinh, gia công hàng cho một DNNN nào
12
đó. Hệ thống các DNNN ở nước ta từ trước tới nay luôn đóng vai trò làm hạt
nhân trong một nhóm sản phẩm nào đó. Cho đến nay, mặc dù cơ cấu kinh tế
có nhiều thay đổi, song vai trò tạo điều kiện hình thành các nhóm sản phẩm,
hiệp hội, thực hiện các mối liên kết dọc, ngang trong nền kinh tế vẫn thuộc về
các DNNN. Đặc biệt, trong điều kiện hội nhập khu vực và quốc tế hiện nay
càng đòi hỏi các doanh nghiệp nước ta phải nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ
thấp chi phí sản xuất. Yêu cầu sẽ không thể giải quyết được nếu DNNN có
quy mô lớn, kỹ thuật hiện đại không đảm đương vai trò là lực lượng nòng cốt,
đảm nhiệm các khâu công việc đòi hỏi kỹ thuật cao trong toàn bộ quá trình
sản xuất sản phẩm, tạo ra xung quanh mình các vệ tinh sản xuất hoặc theo xu
hướng liên kết dọc hoặc theo xu hướng liên kết ngang. Các doanh nghiệp dân
doanh trở thành một mắt, khâu nào đó trong toàn bộ quá trình sản xuất sản
phẩm. Trong mối liên hệ liên kết dọc, ngang này DNNN không chỉ đảm
nhiệm những khâu, những công việc đòi hỏi kỹ thuật cao mà còn có trách
nhiệm hướng dẫn các doanh nghiệp thành viên của mình từng bước nâng cao
trình độ kỹ thuật công nghệ.
Trong các mối liên doanh, liên kết kinh tế, DNNN có đủ sức thực hiện
liên doanh với các doanh nghiệp nước ngoài hình thành các doanh nghiệp liên
doanh. Cho đến nay, chủ yếu các doanh nghiệp liên doanh ở nước ta được
thực hiện giữa một hoặc các bên Việt Nam là DNNN và một hoặc các bên
nước ngoài. Liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài hình thành
doanh nghiệp liên doanh, DNNN đã đóng vai trò làm cầu nối hình thành
doanh nghiệp tư bản nhà nước. Trong điều kiện nền kinh tế nước ta còn đang
thiếu vốn và kỹ thuật trầm trọng như hiện nay, việc hình thành các doanh
nghiệp tư bản nhà nước được coi là một trong các điều kiện quan trọng để tạo
vốn và kỹ thuật ban đầu cần thiết cho sự phát triển kinh tế cũng như để phát
huy nội lực, lôi kéo ngoại lực. Vai trò này của DNNN đòi hỏi phải xác định
đúng đắn các lĩnh vực, ngành cần có sự liên doanh, liên kết nhằm tạo động
lực thúc đẩy kinh tế phát triển tại các vùng kinh tế cụ thể của đất nước.
Bên cạnh đó, DNNN còn đóng vai trò tạo điều kiện giúp đỡ doanh nghiệp
nhỏ của các thành phần kinh tế. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta, vốn
ít, kỹ thuật thủ công, lạc hậu, trình độ kỹ thuật và trình độ quản lý còn rất hạn
chế cho nên sự giúp đỡ của DNNN đối với các doanh nghiệp nhỏ là cần thiết.
Sự giúp đỡ của các DNNN đối với các doanh nghiệp nhỏ được thực hiện
trước hết thông qua các mối quan hệ kinh tế giữa DNNN và doanh nghiệp
nhỏ.
13
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét