Thứ Bảy, 15 tháng 3, 2014

hạch toán hoạt động bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại trung tâm kinh doanh hàng thời trang hà nội


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "hạch toán hoạt động bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại trung tâm kinh doanh hàng thời trang hà nội": http://123doc.vn/document/1041090-hach-toan-hoat-dong-ban-hang-va-xac-dinh-ket-qua-kinh-doanh-tai-trung-tam-kinh-doanh-hang-thoi-trang-ha-noi.htm


PHẦN I: VÀI NÉT TỔNG QUAN VỀ TRUNG TÂM KINH DOANH
HÀNG THỜI TRANG HÀ NỘI
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của TTKDHTTHN
Trung tâm KDHTTHN là một trong hai điểm bán hàng có doanh thu của
công ty kinh doanh hàng thời trang Việt Nam để giới thiệu về trung tâm kinh
doanh hàng thời trang Hà Nội, trước hết tôi xin giới thiệu khái quát về công ty
(cấp trên) của trung tâm là CTyKDHTTVN.
- Tên công ty: Công ty kinh doanh hàng thời trang Việt Nam
- Trụ sở chính: 72-74 Nguyễn Tất Thành phường 12 Quận 4 thành phố
Hồ Chí Minh.
- Khu vực phía Bắc: số 25 Bà Triệu - quận Hoàn Kiếm - Hà Nội
- CTyKDHTTVN là doanh nghiệp nhà nước, được thành lập theo quyết
định số 1021/QĐ-HĐQT ngày 10/10/2001 của Hội đồng Quản trị Tổng công
ty Dệt may Việt Nam.
- Tên giao dịch quốc tế là "VietNam Fashion Company" tên viết tắt VFC
Công ty được thành lập với nhiệm vụ: Tìm kiếm, khai thác thị trường
hàng dệt may Việt Nam, giới thiệu đến người tiêu dùng các sản phẩm hàng
dệt may chất lượng, mẫu mã đa dạng, phong phú, với giá cả phải chăng
Để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, công ty tập trung xây dựng và phát
triển 2 thương hiệu của mình: Vinatex Mart và Vinatex fashion.
Vinatex Mart:
Là hệ thống với hơn 20 cửa hàng, siêu thị trải rộng trên cả nước. Hệ
thống siêu thị Vinatex Mart có nhiệm vụ chính là cung cấp và quảng bá các
sản phẩm thời trang hàng đầu của các đơn vị dệt may Việt Nam. Bên cạnh đó,
nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu của khách hàng, hệt hống siêu thị Vinatex Mart
cũng đã mở rộng các mặt hàng kinh doanh, với việc phát triển hệ thống siêu
5
thị tổng hợp bao gồm: hàng dệt may, hoá phẩm, thực phẩm, đồ dùng gia
đình
Hiện nay với hệ thống siêu thị tổng hợp Vinatex Mart hiện đã phục vụ
được hầu hết các nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng.
Vinatex fashion:
Với mong muốn đem lại sự phong phú và đa dạng cho thị trường dệt
may Việt Nam, công ty đã và đang đẩy mạnh việc thiết kế, sản xuất các mặt
hàng thời trang với thương hiệu Vinatex fashion phù hợp với thị hiếu, thị
trường trong và ngoài nước.
Thành tích đạt được:
+ Được công nhận đơn vị xuất sắc năm 2002, 2003, 2004 do Tổng công
ty Dệt may Việt Nam và Bộ công nghiệp cấp.
+ Được công nhận hàng Việt Nam chất lượng cao năm 2005
Cùng với xu thế phát triển mới, hiện nay công ty đang tiến hành chuẩn
bị cổ phần hoá. Đây là điều kiện thuận lợi để công ty tự "cởi trói", thoát khỏi
tình trạng trì trệ cũ để vươn lên tự khẳng định mình hoạt động cho mục đích
cuối cùng là thúc đẩy sự tăng trưởng vốn, lấy đó làm cơ sở để từng bước
nâng cao đời sống cho người lao động. Cho đến nay, công ty đã đạt được
nhiều thành tựu và xây dựng cho mình được chỗ đứng vững chắc trên thương
trường. Tuy nhiên không tự hài lòng với chính mình, vừa qua Ban giám đốc
công ty đã đầu tư sửa chữa và mở rộng cơ sở hạ tầng như mở thêm tầng 3,
trang thiết bị ở 25 Bà Triệu nhằm bắt kịp với tiến trình phát triển chung
của toàn xã hội.
Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) sẽ dựa trên 36 điểm bán hàng
hiện có gồm 11 siêu thị, 19 cửa hàng thời trang và 6 siêu thị mini để lập thành
chuỗi hệ thống siêu thị riêng cua Vinatex với tên gọi chung là Vinatex Mart.
6
Tên đơn vị kinh tế trực thuộc: Trung tâm kinh doanh hàng thời trang Hà
Nội.
Trụ sở giao dịch số 25 phố Bà Triệu - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội
QĐTL số 463/QĐ-TCHC ngày 06/7/2002 của Tổng công ty Dệt may
Việt Nam.
Vốn: 1.562.500
Số ĐKKD 109963 ngày cấp 14/9/1995 của Bộ Kế hoạch và đầu tư.
Ngành nghề kinh doanh: Tìm kiếm khai thác thị trường hàng dệt may
Việt Nam, giới thiệu tiêu dùng các sản phẩm hàng thời trang của các đơn vị
thành viên Tổng công ty, kinh doanh các mặt hàng dệt may thời trang, thực
hiện một số nhiệm vụ khác do Tổng công ty giao.
1.1.1. Chức năng, nhiệm vụ của TTKDHTTHN
- Tìm kiếm và khai thác thị trường hàng dệt may thời trang.
- Giới thiệu tiêu dùng các sản phẩm dệt may thời trang của các đơn vị
thành viên trực thuộc Tổng công ty Dệt may Việt Nam.
- Chuyên KD các mặt hàng thời trang, KD hàng công nghệ thực phẩm,
nông lâm hải sản, thủ công mỹ nghệ, thiết bị văn phòng, các mặt hàng công
nghiệp tiêu dùng.
Với mục đích hoạt động như trên, nội dung hoạt động chủ yếu của công
ty là KD mua bán các mặt hàng thời trang của các đơn vị thành viên. Phạm vi
hoạt động của công ty không chỉ trong thành phố mà được phép mở rộng,
khai thác, tiêu thụ hàng hoá trong phạm vi cả nước. Theo pháp lệnh hiện
hành, công ty được liên doanh, liên kết với các thành phần kinh tế mở rộng
hoạt động KD.
1.1.2. Quá trình hoạt động của TTKDHTTHN
Năm 2001 nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động bán lẻ, lãnh
đạo của tập đoàn Dệt may Việt Nam đã đề ra một trong những mục tiêu chiến
7
lược của tập đoàn xây dựng hệ thống siêu thị Vinatex khắp toàn quốc với
thương hiệu Vinatex Mart.
Tập đoàn dệt may Việt Nam tập trung một phần nguồn lực của mình
mạnh dạn đầu tư cho mô hình KD bán lẻ theo hình thức chuỗi siêu thị tự
chọn. Từ cửa hàng thời trang Vinatex tại Sài Gòn tới các cửa hàng thời trang
Vinatex khác, năm 2003 ra đời siêu thị Nguyễn Tất Thành tại Quận 4 Thành
phố Hồ Chí Minh chuyên KD tổng hợp các loại thực phẩm, hoá phẩm, đồ gia
dụng, hàng lưu niệm, hàng quần áo nhưng chủ yếu là hàng dệt may là chủ
lực.
Hòa cùng với tốc độ phát triển công nghiệp, trong thời gian qua trên lĩnh
vực thươg mại của Hà Nội đã có được diện mạo mới với hàng loạt các siêu
thị, trung tâm thương mại đã hình thành, đi vào hoạt động, tạo ra một nhịp
sống thương mại hết sức sôi động cho địa phương.
Trong số các siêu thị đang hoạt động, hệ thống siêu thị của Vinatex Mart
với lợi thế riêng biệt đã và đang vươn lên là những kênh phân phối hàng đầu
tại Hà Nội hiện nay và đánh dấu một chặng đường phát triển sau 4 năm hình
thành.
Khởi đầu một đơn vị KD mặt hàng thời trang Vinatex fashion thuộc
Tổng công ty Dệt may Việt Nam - Vinatex, trước nhu cầu phát triển chung
của toàn hệ thống Vinatex trước xu hướng hội nhập kinh tế và nhu cầu ngày
càng tăng của thị trường trong nước về mặt hàng dệt may. Vinatex Mart hình
thành từ năm 2001 với siêu thị đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh. Cho đến
nay, sau 6 năm đi vào hoạt động, hệ thống siêu thị này đã có một sự phát triển
nhanh chóng với 46 điểm bán có mặt trên 16 tỉnh thành trong cả nước không
chỉ dừng lại ở việc mở rộng quy mô, cũng chỉ sau một thời gian ngắn ngủi ấy,
do có những đường đi, nước bước, tầm nhìn chiến lược trong KD, nắm bắt
được nhu cầu của thị trường cũng như xu hướng phát triển của loại hình KD
8
siêu thị, Vinatex Mart đã gặt hái được những thành công trên thương trường
với nhịp độ tăng trưởng trong doanh thu bán hàng đạt được ở mức 150%
hàng năm.
CTyKDHTTVN đã có 3 năm liên tục 2004 - 2006 đạt danh hiệu "Hàng
Việt Nam chất lượng cao", nằm trong top 10 nhà bán lẻ Việt Nam, Top 500
nhà bán lẻ Châu Á - Thái Bình Dương 2007. Từ nay đến năm 2010, Vinatex
Mart cố gắng phấn đầu và phát triển mạng lưới hình thành điểm bán lẻ, siêu
thị của mình phủ kín các tỉnh thành, huyện thị đông dân mở 80 cửa hàng, siêu
thị, trung tâm thương mại và trung tâm bán sỉ. Tiếp tục bổ sung nền tảng cho
việc trở thành trụ cột chính trong việc bảo vệ thị phần hàng dệt may Việt Nam
tại thị trường nội địa. Vinatex Mart cố gắng hơn nữa để trở thành một tập
đoàn bán lẻ nằm trong top 3 của hệ thống bán lẻ Việt Nam. Đồng thời, phấn
đấu trở thành DN hàng đầu trong lĩnh vực KD hàng dệt may.
1.1.3. Tình hình KD của công ty qua các năm:
Trong nền kinh tế, nhiệm vụ của mỗi DN là thực hiện tái sản xuất của
cải, vật chất góp phần tạo ra tổng sản phẩm xã hội bằng nguồn lực sẵn có. Do
vậy các nhà quản trị của TTKDHTTHN luôn nỗ lực nghiên cứu để tạo ra các
biện pháp KD phù hợp nhằm không ngừng gia tăng nội lực và tìm kiếm lợi
nhuận. Có thể khái quát các nguồn lực chủ yếu của công ty như sau:
1.1.3.1. Vốn kinh doanh
Vốn KD bao giờ cũng là tiền đề, là cơ sở để DN tính toán, hoạch định
các chiến lược và kế hoạch KD. Với ý nghĩa đó, vốn là điều kiện quan trọng
quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của DN. Vì kinh doanh thương mại
giữ vai trò chủ yếu nên TTKDHTTHN có đặc điểm về vốn tương đối phù hợp
với nhiệm vụ và phạm vi hoạt động của công ty.
9
Bảng 1.1. Cơ cấu vốn KD của Trung tâm
Đơn vị: 1000đ
Cơ cấu nguồn vốn
Năm 2005 Năm 2006 So sánh
Số tiền % Số tiền % Số tiền %
Vốn KD 7.947.728 100 7.642.626 100 -305.102 -3,84
Vốn lưu động 3.717.039 44,77 4.280.605 56 563.566 15,2
Vốn cố định 4.230.689 53,23 3.362.021 44 -868.668 -20,5
Vốn do NSNN cấp 7.354.706 92,54 7.096.827 92,86 -257.879 -3,51
Vốn tự bổ sung 593.022 7,46 545.798 7,14 -47.224 -7,96
Nhìn vào biểu cơ cấu nguồn vốn của công ty ta tháy vì là một doanh
nghiệp Nhà nước nên công ty có nguồn vốn chủ yếu do ngân sách nhà nước
cấp (Chiếm tỷ trọng trên 90%). So sánh số liệu năm 2006 với 2005 ta thấy các
nhà quản trị của công ty đã có sự đánh giá đúng đắn, nguồn vốn do ngân sách
nhà nước cấp giảm (giảm 257.879 nghìn đồng về số tuyệt đối, chiếm tỷ lệ
3,51% về số tương đối) và tăng nguồn vốn lưu động được 593.566 nghìn
đồng về số tuyệt đối ứng với 15,2% về số tương đối do vậy đã đưa nguồn vốn
lưu động của công ty đạt 56% trong tổng vốn kinh daonh. Tuy nhiên ban lãnh
đạo công ty cũng nên nghiên cứu kỹ và xác định chính sách nhu cầu về vốn
kinh doanh của công ty để trên cơ sở đó "nghệ thuật" sử dụng vốn cho phù
hợp với yêu cầu kinh doanh của từng giai đoạn cụ thể và phát triển được vốn,
đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế thị trường và xu hướng hội nhập kinh
tế quốc tế.
1.1.3.2. Lao động
Để đất nước có một nền kinh tế phát triển thì cần có sự tham gia của các
doanh nghiệp hùng mạnh mà con người chính là yếu tố quan trọng quyết định
sự tồn tại của doanh nghiệp. Nhận thức được điều này, TTKDHTTHN luôn
chăm sóc người lao động, lấy họ làm trung tâm để thực hiện sản xuất kinh
doanh.
10
Do đặc thù là ngành công nghiệp nhẹ nên đòi hỏi đội ngũ công nhân
phải làm việc nhiệt tình, có khả năng bán hàng và giới thiệu sản phẩm nên
công ty thu hút phân lớn lao động là nữ. Số lượng lao động nam không nhiều
chủ yéu nắm giữ vị trí như những công việc đòi hỏi sức khoẻ như lái xe, bảo
vệ, phụ kho,
Công ty thường quan tâm đến chiến lược phát triển về con người mà cụ
thể là công ty thường xuyên có kế hoạch và thực hiện bồi dưỡng cho cán bộ
chủ chốt như mời giảng viên chuyên môn về bán hàng, Marketing về giảng
dạy và hướng dẫn cách bán hàng, chăm sóc hàng để tạo ấn tượng tốt với
khách và mục đich cuối cùng là bán được nhiều hàng, đem lại lợi nhuận cao
cho công ty, hay để tổ chức cho cán bộ đi tập huấn ở nước ngoài: Singapo
tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích người lao động học tập và nâng cao
trình độ chuyên môn và chính trị,
Nhìn chung, chất lượng lao động của toàn công ty đạt ở mức trung bình
đó là do đặc thù chủ yếu của công ty là bán hàng, cung cấp dịch vụ và may
mặc nên những công việc này không đòi hỏi phải lao động trí óc nhiều mà chỉ
đòi hỏi sức khoẻ, sự dẻo dai và khéo léo, chăm chỉ, nhiệt tình
1.1.3.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật
Tận dụng những thế mạnh vốn có, công ty luôn đáp ứng nhu cầu của
người tiêu dùng mọi lúc, mọi nơi. Vói mạng lưới kinh doanh rộng lớn, xuất
hiện trên hầu hết các khu phố chính tại Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi để
công ty thực hiện tốt mục tiêu trên. Ngoài trụ sở chính tại 25 Bà Triệu, công
ty còn có các đơn vị trực thuộc sau đây:
- Cửa hàng TT Vinatex Kim Liên
- Cửa hàng TT Vinatex Cầu Giấy
- Cửa hàng TT Vinatex Thanh Xuân
- Cửa hàng TT Vinatex Khâm Thiên
11
- Cửa hàng TT Vinatex Thành Công
- Cửa hàng TT Vinatex Giảng Võ
- Đại lý Vinatex Tông Đản
- Đại lý Vinatex Hồ Tây
- Đại lý Vinatex Đại La
- Đại lý Vinatex Nguyễn Phong Sắc
- Đại lý Vinatex Lê Duẩn
- Đại lý Vinatex Định Công
- Đại lý Vinatex Thanh Hoá
- Đại lý Vinatex Chợ Bưởi
- Đại lý Vinatex Hải Dương
- Siêu thị tổng hợp Hà Đông
- Tổng kho 8/3

Công ty có lợi thế kinh doanh rất tốt, trong năm 2006 đã tập trung cải
tạo nâng cấp, và xây dựng và khai chương tầng 3 siêu thị tại 25 Bà Triệu. Văn
phòng Công ty cũng được trang bị thêm một số phương tiện hiện đại phục vụ
đắc lực cho công ty trong việc quản lý. Ngoài ra công ty còn tận dụng lợi thế
của mình bằng cách cho thuê đất, mặt bằng, những nơi kinh doanh không hiệu
quả để thu được số tiền ổn định hàng tháng, góp phần tăng thêm lợi nhuận
trong kỳ cho công ty.
1.1.3.4. Đặc điểm nguồn hàng và các hình tức tạo nguồn
Nắm được đặc điểm của người tiêu dùng nói chung là muốn mua được
hàng hoá có chất lượng, mẫu mã phong phú, hình thức hấp dẫn nhưng giá
phải hợp lý, bởi vậy công ty luôn phải tập trung nghiên cứu phân loại các
nguồn hàng, lựa chọn hình thức mua hợp lý và đề ra các biện pháp nhằm khai
thác tối đa nguồn hàng trên thị trường.
12
Công ty thương mua hàng theo các nguồn sau:
- Nguồn hàng sản xuất trong nước. Bao gồm những hàng hoá do các đơn
vị sản xuất công, nông lâm, ngư nghiệp thuộc các thành phần kinh tế sản xuất
ra. Sử dụng nguồn hàng này có nghĩa là phát huy ưu thế chủ động tìm hiểu
khả năng sản xuát, tiến độ giao hàng, chất lượng sản phẩm , điều kiện tiếp
nhận đơn giản.
Ngoài ra, công ty còn tận dụng một bộ phận nhỏ là nguồn hàng tồn kho
của các đơn vị sản xuất nhưng trong điều kiện hàng hoá đủ chất lượng và giá
thành thấp.
1.1.3.5. Kết quả sản xuất kinh doanh của TTKDHTTHN
Nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước nên là một quốc gia ổn định về chính trị, đường lối ngoại giao,
chiến lược phát triển kinh tế, xã hội hợp lý, hệ thống luật pháp tác động đến
quyền lợi của doanh nghiệp và người tiêu dùng. Đó là một môi trường vĩ mô
tác động trực tiếp tạo điều kiẹn thuận lợi cho công ty phát triển. Tuy nhiên
mặt trái của cơ chế thị trường là sự xuất hiện của nhiều khó khăn mà công ty
hiện đang phải đối mặt: có nhiều mặt hàng nhập khẩu từ Trung Quốc với hình
thức đẹp, mẫu mã phong phú và đặc biệt là giá rẻ cạnh tranh với hàng sản
xuất trên dây chuyền lạc hậu, chất lượng chưa tốt, giá cả lại cao tạo sức ép với
công ty. Trước tình hình đó, ban lãnh đạo công ty đã có nhiều quyết sách
đúng đắn trong đổi mới hoạt động sản xuất kinh doanh: chỉ đạo phòng kế
hoạch kinh doanh triển khai tìm hiểu và kinh doanh hàng may mặc cao cấp
nên đã tạo ra doanh số cao hơn cho công ty. Công ty đã biết khai thác thế
mạnh tham gia vào nhiều hội chợ tại Hà Nội. Những yếu tố này đã góp phần
làm tăng doanh thu của công ty.
Bảng 1.2. Kết quả sản xuất kinh doanh của trung tâm
Đơn vị: 1000đ
13
Chỉ tiêu Năm So sánh
2004 2005 2006
2005/2004 2006/2005
Số tiền % Số tiền %
Doanh thu 41.159.592 62.724.940 82.477.925 21.565.34
8
52,39 19.752.985 31,49
Nộp ngân sách
Nhà nước
1.022.426 1.081.645 1.385.732 52.219 5,79 304.087 28,11
Lợi nhuận
trước thuế
435.490 499.490 550.205 64.000 14,7 50,715 10,15
Thu nhập bình
quân
408,5 506 850 97,5 23,87 344 67,98
Số liệu trên cho thấy doanh thu của trung tâm liên tục được tăng lên qua
các năm với con số tương đối lớn, không những thế mà chỉ tiêu nộp ngân sách
và lợi nhuận cũng tăng đều qua các năm chứng tỏ trung tâm chấp hành và
thực hiện rất tốt nghĩa vụ đối với nhà nước, đồng thời trung tâm luôn quan
tâm đến đời sống của người lao động. Điều này chứng tỏ sự lớn mạnh và phát
triển không ngừng của công ty sẵn sàng chuẩn bị để hội nhập kinh tế quốc tế
trong thời gian tới.
1.2. Tổ chức bộ máy quản lý tại TTKDHTTHN
Để thành công trong kinh doanh, hoạt động của mọi doanh nghiệp đều
cần được thực hiện trên nền của một hệ thống cấu trúc hợp lý và có hiệu quả.
Trong các giai đoạn phát triển của doanh nghiệp, hệ thống tổ chức cần phải
đảm bảo khả năng thích ứng tốt với các xu hướng vận động, tăng trưởng hy
suy thoái trong kinh doanh. Nắm vững điều đó TTKDHTTHN trong những
năm qua đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ vững vàng về chính trị, có
năng lực về chuyên môn hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Đến
nay bộ máy quản lý của công ty đã có những thay đổi hợp lý được xây dựng
theo quan điểm gọn nhẹ, hiệu quả, phù hợp với cơ chế thị trường đáp ứng
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét