Nguyễn Đình Chiểu: Nhà thơ yêu nước nồng cháy và một nhân cách lớn
Lục Vân Tiên: Một tác phẩm chấn hưng phong hoá dân tộc
Nguyễn Đình Chiểu (1822 - 1888) là một nhà nho yêu nước chân chính tiêu biểu của Nam Bộ trong thế kỷ XIX.
Cùng chung số phận với nhiều văn thi hào và sĩ phu kiệt hiệt khác như Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Tú Xương,
Hoàng Diệu, Phan Đình Phùng, Trương Định , Nguyến Đình Chiểu sống vào một giai đoạn vô cùng đen tối của
lịch sử dân tộc. Triều đình nhà Nguyễn (với những ông vua thủ cựu như Tự Đức ) đang trên đà suy sụp, đã mất
hẳn khả năng lãnh đạo nhân dân kể cả trong công cuộc xây dựng cũng như công cuộc bảo vệ nền độc lập của Tổ
quốc. Xã hội Việt Nam thời đó rơi vào tình trạng ngưng trệ và lạc hậu thảm hại. Rốt cuộc, trước sự xâm lược của
thực dân Pháp, cái triều đình ươn hèn, bất lực đó đã không thể đối phó, không thể lập được "thế cân bằng" với
ngoại bang, và đã để đất nước ta rơi trọn vào tay chúng.
Trước vận mệnh bi đát của đất nước, trước cảnh "sinh dân nghiêng nghèo" ấy, Nguyễn Đình Chiểu cũng như bao
người hiền tài khác, đã đau lòng nhức óc biết là nhường nào!
Trước kia Nguyễn Trãi đã từng nhận định rằng trên đất nước ta, các thời đại "tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
song hào kiệt không bao giờ thiếu" (Bình Ngô đại cáo).
Nguyễn Đình Chiểu là một người con hào kiệt của vùng đồng bằng Nam Bộ, là một nhân cách lớn mà sự nghiệp
và tên tuổi của ông sẽ mãi mãi sáng ngời. Là nhà thơ suốt đời bị mù loà, nhưng không những ông là tác giả của
tác phẩm bất hủ Lục Vân Tiên, của "Ngư tiều y thuật vấn đáp", "Dương Từ Hà Mậu" , ông còn là tác giả của
những bài thơ, những bài văn tế nổi tiếng, trong đó ông đã tưới máu và nước mắt của mình hoà chung với những
bi kịch mà nhân dân anh hùng bất khuất và đau thương của ông phải chịu đựng khi chống trả bọn xâm lược. Có
những câu thơ của ông đã khắc sâu vào lòng người:
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.
Lịch sử văn học đã xác nhận Nguyễn Đình Chiểu là nhà văn, nhà thơ tiên khu vĩ đại, người mở đầu cho dòng văn
học yêu nước và cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.
Lục Vân Tiên là tác phẩm "tiểu thuyết bằng thơ nôm" sau chót của văn học Việt Nam, được Nguyễn Đình Chiểu
sáng tác ngay trong thời kì cận đại. Đó là điểm son cuối cùng của loại hình tác "truyện nôm", "diễn ca nôm" như
Chinh phụ ngâm, cung oán ngâm khúc, Hoa Tiên, Phan Trần, Nhị Độ Mai, Bần nữ thán, Truyện Kiều, truyện
nôm khuyết danh
Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tác Lục Vân Tiên với động cơ gì?
Như trên đã nói, trước khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, xã hội Việt Nam, trong cơ chế của một chế độ phong
kiến phương Đông ngưng trệ, lạc hậu, đương trượt dài trên con đường suy thoái. Khắp đất nước phơi bày tình
cảnh nghèo đói xác xơ, đạo đức con người cũng như phong hoá dân tộc ngày một sa sút.
Nguyễn Đình Chiểu là một nhà Nho chân chính, cho nên trong lòng ông lúc nào cũng đau đáu những ý tưởng về
sự "kinh bang tế thế". Do hạn chế về lịch sử, ông chưa nhận thức được rằng những ý tưởng của những sĩ phu
phong kiến như ông muốn khôi phục lại một xã hội lý tưởng thời Nghiêu - Thuấn, thực ra đã lỗi thời rồi
Tuy nhiên với tâm huyết sôi sục của một con người nhập thế tích cực, nhất thiết ông phải hành động để phụng sự
đất nước và dân tộc ông. Chính vì thiết tha muốn "đem lời nói đốt cháy lòng thiên hạ" (thơ Puskin) mà ông viết
Lục Vân Tiên. Với ông, trong lúc đời đang suy, việc viết một tác phẩm đứng đắn và mang đầy nhiệt huyết như
Lục Vân Tiên chính là một diệu kế, khả dĩ cứu vãn được sự suy thoái của đất nước và chấn hưng được phong hoá
của dân tộc.
1
Lục Vân Tiên là bản trường ca đề cập về luân lí đạo đức của con người, nói cách khác: về "Đạo lý Việt Nam".
Đạo lý ấy rất giản dị: Trai thì trung với nước, hiếu với cha mẹ, có chí tiến thủ, giúp nước cứu dân; gái thì tiết
hạnh và cao quý; đồng bào ăn ở với nhau thì có thuỷ có chung, luôn luôn sẵn sàng cứu giúp nhau trong những
cơn hoạn nạn, không vì danh lợi mà chà đạp lên tình người, không vì những đố kị và oán hận riêng tây mà hại
người, không nên "hành" những nghề lừa bịp tức cười như lang băm, thầy bói, thầy pháp nhảm nhí
Cái đạo lý rất mực dân dã ấy thực ra lại là rường cột của nền đạo đức của cả một dân tộc, là cội nguồn của hạnh
phúc con người. Cái kết thúc "có hậu" của Lục Vân Tiên phản ánh quan niệm của nhân dân đối với những ai biết
giữ gìn đạo đức (như Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Vương Tử Trực, Hớn Minh ). Ngược lại, những nhân vật
như Võ Công, mẹ con Thể Loan, Trịnh Hâm, đã phải trả giá đắt chỉ vì họ đã vứt bỏ cái đạo làm người đó.
Là tác phẩm viết cho quảng đại quần chúng, chuyên luận bàn về luân lí đạo đức, Lục Vân Tiên được sáng tác, cốt
truyện mạch lạc và hấp dẫn, đậm đà màu sắc văn hoá Nam Bộ.
Đọc Lục Vân Tiên chúng ta cảm nhận được cái tinh thần đạo đức cao quý và tình người chan chứa hiện ra phơi
phới trong mỗi trang thơ.
Các nhân vật chính như Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Vương Tử Trực, Tiểu Đồng, và các nhân vật phụ như
Thể Loan, Kiều Công, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm được tác giả miêu tả nkhá sinh động, có cá tính.
Đặc biệt nữ nhân vật Kiều Nguyệt Nga - người con gái Việt Nam đức hạnh nết na - rõ ràng có một cuộc sống nội
tâm khá phong phú, sâu sắc, một sự thông minh dễ thương và một đức kiên trinh đáng khâm phục, khiến chúng ta
không thể không xúc động và yêu quý nàng.
Tất cả những điều đó giải thích vì sao Lục Vân Tiên đã được đông đảo quần chúng nhân dân, nhất là nhân dân
Nam Bộ, mến mộ suốt hơn một thế kỷ qua; vì sao Lục Vân Tiên đã đi vào ca dao:
Vân Tiên Vân Tiển Vân Tiền
Cho tôi một tiền, tôi kể Vân Tiên
TP. Hồ Chí Minh tháng 10-1996
Thiên Chương
LỤC VÂN TIÊN VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM VÀO ĐỜI
LỤC VÂN TIÊN VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM VÀO ĐỜI
Nguyễn Thiên Thụ
Lục Vân Tiên là một truyện nôm, là một tự thuật của Nguyễn Đình Chiểu về cuộc đời gian truân của ông.
Ông là một thiếu niên của Gia Định thành, thân phụ người Trung, mẹ người Nam. Ông đã lo học tập, ước mơ một
cuộc đời tươi sáng. Ông đã mang hy vọng đó khi ra kinh ứng thí. Nhưng rồi cuộc đời và lịch sử đã mang tai họa
đến với ông. Nghe tin mẹ mất, ông phải bỏ thi về thọ tang. Vì khóc quá nên ông mù mắt. Ông mất khá nhiều tiền
để chửa binh nhưng tiền mất tật mang. Một năm sau về đến nhà thì gia đình gái từ hôn. Rồi Pháp đến xâm chiếm
nước ta, dân chúng chết vì đạn Pháp, nhà cháy vì thưc dân đốt phá. Ông phải bỏ Gia Định mà về Bến Tre. Cuộc
đời của ông hòa lệ với dân tộc Việt Nam. Nhất là đòi tư của ông là những trang tiểu thuyết bi thảm. Có lẽ muốn
tránh người đời tò mò, hoặc cũng như thói thường các tiểu thuyết gia Việt Nam vay mượn truyện Trung Quốc,
ông cũng dùng bảng hiêu Tây Minh để cho bình thường hóa tác phẩm của ông.
2
Lục Vân Tiên là biểu tượng con người trong cuộc đời. Sinh ra trên cõi đời, một số người hạnh phúc,
nhưng một số người lại gặp bất hạnh. Lục Vân Tiên là cuộc đời của những người bất hạnh này. Nhìn chung, cuộc
đời con người có thể chia ba giai đoạn:thuở thiếu thời, trung niên và tuổi già. Cuộc đời Lục Vân Tiên cũng vậy.
Ta có thể chia ba thời kỳ: vào trường, vào đời và chung cuộc.
I. VÀO TRƯỜNG
Lục Vân Tiên là một chàng thư sinh, theo thầy ở trên núi, nghĩa là một người còn trẻ, đang học tập, chưa
ra đời làm việc, hoạt động và sống với đời sống thực:
Theo thầy nấu sử xôi kinh,
Tháng ngày bao quản sân Trình lao đao. (11-12)
Chàng học tập văn lẫn võ để chuẩn bị cho tương lai ra đời giúp nước, cứu dân:
Văn đà khởi phụng đằng giao,
Võ thêm tam lược, lục thao ai bì.(13-14)
Sau một thời gian học tập, người trai phải từ giã thầy và mái trường để dấn thân vào đời.Ngày trọng đại đã đến,
Lục Vân Tiên phải từ giã thầy mà xuống núi để nhập trường thi:
Xảy nghe mở hội khoa thi,
Vân Tiên vào tạ tôn sư ra về. ( 15-16 )
Tuổi trẻ nuôi nhiều mộng mơ. Vân Tiên hy vọng sẽ thi đỗ, làm quan, và đem tài ra giúp nước:
Chí lăm bắn nhạn ven mây,
Danh tôi đặng rạng, tiếng thấy đồn xa.
Làm trai trong cõi người ta,
Trước lo báo bổ sau là hiển vang. (21-24)
Sự đời thay đổi, và cuộc đời không có gì bảo đảm. Có thể thành, có thể bại. Tuy là nuôi hy vọng, ai cũng lo sợ
đường đời trắc trở. Bậc tiên sư đã nhìn thấy tương lai sóng gió của Lục Vân Tiên:
Nhân cơ tàng sự dặn rằng,
Việc người chẳng khác việc trăng trên trời.
Tuy là soi khắp mọi nơi,
Khi mờ, khi tỏ, khi vơi, khi đầy. (69-72)
Nguyễn Bá Học đã nói đúng tâm trạng và chí khí của những chàng trai vừa lớn lại nuôi mộng cao xa:
Người ta đương lúc thiếu niên, lòng xuân phơi phới như trăng mới lên, như hoa mới nở, sự đời
chưa hề từng trải, tư tưởng những sự cao xa.
( Lời khuyên học trò )
Trừ những người vì hoàn cảnh khó khăn không đến trường được, đa số thanh niên khi từ giã mái trường đều nặng
lòng thương nhớ:
3
Ra đi vừa rạng chân trời,
Ngùi ngùi ngó lại nhớ nơi học đường.(77-78)
Mái trường cũ là thiên đường đã mất, là bảo tàng của tuổi thơ, vì vậy, sau này xa quê, ai cũng nhớ mái trường cũ.
Những ngày ở mái trường rất đẹp, là giai đoạn bình minh của cuộc đời. Rời xa mái trường, nghĩa là giã từ tuổi
thơ, giã từ hạnh phúc để đi vào cuộc đời đầy sóng gió. Mái trường của Lục Vân Tiên ở trên non cao, là nơi thanh
tịnh, nơi tu hành, nơi xa trần tục. Rời non cao để vào đời là bắt đầu đi vào phong ba, bão táp. Đây là cuộc đời đi
xuống, cuộc đời trần tục.
II. VÀO ĐỜI
Vừa rời khỏi mái trường, con người đa số phải đối đầu với bao thực trạng xã hội xấu xa. Khi vào đời, Lục
Vân Tiên đã trải qua nhiều kinh nghiệm, mà trong đó có những kinh nghiệm tốt đẹp, và những kinh nghiệp đắng
cay.
1. GIẶC CƯỚP
Xã hội nào cũng có những bọn giặc cướp, chỉ khác nhau ở chỗ công khai hay bí mật, mạnh hay yếu, tàn
bạo nhiều hay it. Giặc cướp đây bao gồm tất cả những cá nhận hay nhóm người nào chiếm đoạt tài sản quốc gia,
hay tư nhân, vi phạm quyền lợi nhân dân, giết hại và gây đói khổ cho nhân dân. Không phải chỉ có bọn Lương
Sơn Bạc mới là ăn cướp. Bao thời đại, có rất nhiều bọn cướp và hình thức ăn cướp. Bọn chúng mặc áo nhà tu,
đoàn thể cách mạng, công ty thương nghiệp, hay hội đoàn từ thiện. . .Nhưng phổ biến nhất là bọn vua chúa tàn
ác, và quan lại tham ô, chúng là một bọn cướp như nhân dân ta quan niệm rất chính xác:
Con ơi con nhớ lời này,
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan ( ca dao)
Lục Vân Tiên vừa xuống núi là gặp ngay bọn cướp:
Nhân rày có đảng lâu la,
Tên rằng Đỗ Dự, hiệu rằng Phong Lai.
Nhóm nhau ở chốn sơn đài,
Người người sợ nó có tài khôn đương.
Bây giờ xuống cướp thôn hương
Thấy con gái tốt qua đường bắt đi.
Xóm làng chẳng dám nói chi,
Cám thương hai gã nữ nhi mắc nàn.
Con ai vóc ngọc, mình vàng,
Má đào, mày liễu dung nhan lạnh lùng.
E khi mắc đảng hành hung,
Uổng trang thục nữ sánh cùng thất phu.
Thôi thôi chẳng dám nói lâu,
Chạy đi cho khỏi kẻo âu đến mình (101-114)
4
Lục Vân Tiên là hạng người theo chánh nghĩa, không thể đứng yên nhìn bọn cướp hoành hành. Chỉ có chàng là
một thanh niên mới lớn, tâm hồn còn trong trắng, còn thật lòng theo Phật, theo Khổng, còn nuôi mộng cứu khổn
phò nguy, cho nên đã hăng hái đem bầu nhiệt huyết cùng tính mạng một mình tranh đấu chống bọn tham tàn:
Vân Tiên ghé lại bên đàng,
Bẻ cây làm gậy, bên đàng chạy vô.
Kêu rằng bớ đảng hung đồ,
Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân. (123-126 )
Lục Vân Tiên là biểu tượng của Chân, Thiện Mỹ. Tâm hồn chàng là tâm hồn một thư sinh trong sáng, ngọn lửa
chánh nghĩa bùng lên trong tim. Hạng người như chàng nuôi mộng cao xa, rất có đạo đức. Họ không ghen ghét
người giỏi, khinh bỉ người hèn, không ăn hối lộ, không trộm cắp của công, không lừa đảo dân chúng, không mưu
hại đồng nghiệp, không nghiện bài bạc . Nhiều người chỉ trích Lục Vân Tiên khô khan, nhưng đó cũng là một sự
thực: trong đời có nhiều người không mê nữ sắc, không tham dâm, không mê tiền tài, danh vọng.
2. TÌNH YÊU
Gặp Kiều Nguyệt Nga là một kinh nghiệm thứ hai của Lục Vân Tiên. Đó là kinh nghiệm về tình yêu. Lục
Vân Tiên là một chàng trai mới lớn, chưa hề quen biết một cô gái nào, và cũng chưa hề yêu đương cho nên đối
với nữ nhân chàng còn nhiều e ngại. Hơn nữa, chàng thuộc thế hệ nho sĩ ngày xưa, trọng nghĩa khinh tài, biết thủ
lễ và tránh những hành động có thể bị coi là lợi dụng.
Vân Tiên khó nỗi làm thinh,
Chữ ơn buộc lại chữ tình lây dây.
Than rằng đó khó trêu đây,
Ơn kia đã mấy, của này rất sang.
Đương khi gập gỡ giữa đàng,
Một lời cũng nhớ, ngàn vàng chẳng phai.
Nhớ câu trọng nghĩa khinh tài,
Nào ai chịu lấy của ai làm gì. (201-08)
Chàng không phải là hạng người lịch duyệt, biết ân cần, săn sóc phụ nữ, nhưng chàng đã vồn vã, lịch sự
chào hỏi Nguyệt Nga mặc dầu chàng vẫn giữ một khoảng cách với nàng:
Vân Tiên nghe nói động lòng,
Đáp rằng: Ta đã trừ dòng lâu la.
Khoan khoan ngồi đó chớ ra,
Nàng là phận gái,ta là phận trai.
Tiểu thư con cái nhà ai?
Đi đâu nên nỗi mang tai bất kỳ?
Chẳng hay tên họ là chi?
5
Khuê môn phận gái việc gì đến đây? (143-150)
Còn Nguyệt Nga đưọc Lục Vân Tiên cứu thoát bàn tay bọn cướp, nàng cảm ơn cứu tử và cảm động vì hành động
hào hiệp, can đảm của chàng. Đa số người nữ thường rung động trước sự giúp đỡ, và tình cản nồng hậu của nam
nhân. Anh hùng cứu mỹ nhân, mỹ nhân yêu anh hùng là một đề tài phổ biến xưa nay. Nàng đã yêu chàng ngay
trong buổi đầu. Hành động gửi tặng vật là một cách biểu lộ tình yêu một cách kín đáo. Khi Lục Vân Tiên tỏ vẻ
lạnh lùng, nàng đã hờn dỗi. Cử chỉ của nàng rất đáng yêu:
-Vật chi một chút gọi là,
Thiếp thưa chưa dứt, chàng đà làm ngơ.
Của này là của vất vơ,
Lòng chê cũng phải, mặt ngơ sao đành .(197-200 )
-Thưa rằng chút phận nữ nhi,
Vốn chưa biết lẽ có khi mích lòng.
Ai dè những đấng anh hùng,
Thấy trâm thôi lại thẹn thùng cùng trâm.
Riêng than trâm hỡi là trâm,
Vô duyên chi bấy ai cầm mà mơ. (209-14)
Từ trước Lục Vân Tiên chưa yêu ai. Tình yêu của Nguyệt Nga là một kinh nghiêm đầu tiên rất tươi thắm trong
đời chàng.
3. HÔN NHÂN
Ngày xưa, người Việt Nam lấy vợ sớm, và hôn nhân do các bậc cha mẹ quyết định. Hai bên cha mẹ đãï
đính ước từ trước, có khi hai trẻ còn nằm trong bụng me . Chàng là một thanh niên đầy hứa hẹn tương lai cho nên
đã được nhà gái đón tiếp nồng hậu khi chàng đến thăm trước khi vào kinh ứng thí. Vị hôn thê của chàng là Võ
Thể Loan đã ân cần với chàng trước khi chia tay:
Chàng dầu cung quế xuyên dương,
Thiếp xin hai chữ tao khang cho bằng.
Xin đừng tham dó bỏ đăng,
Chơi lê quên lựu, chơi trăng quên đèn.(709-12)
Không hiểu vì chịu ảnh hưởng các truyện xưa tích cũ về tình nghĩa vợ chồng, hoặc vì linh tính, Lục Vân Tiên đã
trả lời Võ Thể Loan bằng giọng điệu nghi ngờ:
Tiên rằng như lửa mới nhen,
Dễ trong một bếp mà chen mấy lò?
May duyên, rủi nợ dễ phô,
Chớ lo Ngô Khởi, hãy lo Mãi Thần. (713-16)
6
Gia đình họ Võ đã đem lại cho chàng nỗi niềm cay đắng trên bước đường đời. Khi chàng bị mùa lòa,
chàng liền nghĩ đến vị hôn thê và gia đình bên vợ. Chàng là người mới bước vào đời, lòng còn trong sáng, còn tin
tưởng vào lời hứa hẹn của người đời. Vì vậy, sau khi ngư ông cứu chàng thoát chết trong giòng sông sâu, chàng
ngỏ lời cậy ngư ông đưa chàng đến nhà nhạc gia để họ giúp đỡ chàng khi nguy nan:
Tiên rằng xưa đã gá lời,
Sui gia ai nỡ đổi dời chẳng thương.
Vợ chồng là đạo tang khang,
Chi bằng tới đó tìm phương gửi mình.
Trăm năm muốn trọn ân tình,
Đương khi hoạn nạn ai đành bỏ nhau.
Chút nhờ cứu tử ơn sâu,
Xin đem tới đó, trước sau cho tròn. (981-988)
Ngư ông là người từng trải việc đời, đã nghi ngờ họ Võ sẽ thay lòng đổi dạ khi thấy chàng thất bại công
danh và mù lòa. Ông ngỏ lời khuyên can chàng nhưng chàng vẫn không nghe ý kiến của ngư ông:
Ngư rằng làm đạo rể con,
Cũng như sợi chỉ mà luồn trôn kim.
Sợ bay mà mỏi sức chim,
Bơ vơ cảnh lạ, khôn tìm cây xưa.
E khi chậm bước tới trưa,
Chớ đi sông cũ , bến xưa mà lầm.
Mấy ai ở ở đặng hảo tậm,,
Nắng đun chót nón, mưa dầm tả tơi.
Mấy ai hay nghĩ việc đời,
Nhớ nơi nghèo khổ, quên nơi sang giàu.
Đã ba thứ tóc trên đầu,
Gẫm trong thế sự thêm âu cho đời.( 989-1000)
Nhưng niềm tin ngây thơ của chàng đã bị tan vỡ. Chàng bị mù lòa lại bị từ hôn. Cay đắng nhất là vị hôn
thê của chàng đã dùng những lời thô bạo đối với chàng. Chàng là người chung thủy, nhưng nhân thế đã thay lòng
đổi dạ:
Loan rằng: Gót đỏ như son,
Xưa nay ai dễ đem chôn xuống bùn.
Ai cho sen muống một bồn,
7
Ai từng chanh khế sánh phồn lựu lê.
Thà không trót chịu một bề,
Nỡ đem mình ngọc, dựa kề thất phu.
Đã công chờ đợi danh nho,
Rể đâu có rể đui mù thế ni. . (1027-34)
Chính Võ Thể Loan, vị hôn thê của chàng đóng vai trò tích cực trong việc đổi trắng thay đen. Nàng đã táo
bạo đề nghị với cha mẹ cho nàng kết hôn cùng Vương Tử Trực, bạn của Vân Tiên vừa đỗ thủ khoa:
Đã nghe người nói hội này,
Rằng Vương Tử Trực chiếm rày khôi khoa.
Ta dầu muốn kết xui gia,
Họ Vương, họ Võ một nhà mới xinh.(1035-38)
Khi Võ ông đem chàng bỏ hang sâu, chàng mới hiểu rõ lòng dạ người đới:
Vân Tiên khi ấy hãi hùng,
Nghĩ ra mới biết Võ công hại mình.(1059-60).
4. ÁC NHÂN
Bọn gian ác ở khắp mọi nơi.Trong hàng ngũ trí thức cũng có kẻ gian ác mặc dầu nho sĩ vốn xuất thân cửa
Khổng sân Trình, học nhân nghĩa lễ trí tín. Trên đường vào trường thi, chàng đã gặp bọn Trịnh Hâm, Bùi Kiệm.
Bọn này đã vào trường thi cùng Lục Vân Tiên và Vương Tử Trực. Bọn này học kém, không làm được bài
thi.Thấy Vương và Lục làm được bài, chúng sinh lòng ghen ghét, cho rằng Vương và Lục viết tùng cổ thi (464).
Bọn họ đã cùng Lục Vân Tiên và Vương Tử Trực uống rượu, làm thơ. Ông chủ quán là người bình dân, nhưng
môi trường làm việc của ông là quán khách, có nhiều loại người lui tới cho nên ông tiếp xúc với nhiều người và
hiểu tâm tính của họ. Vì vậy, ông xem qua cách làm thơ của bọn này đã biết Trịnh Hâm và Bùi Kiệm thuộc loại
lừa thầy, dối bạn:
Tiên rằng: Ông quán cười ai,
Quán rằng cười kẻ bất tài đồ thơ.
Cười người Tôn Tãn không lừa,
Trước đà thấy máy chẳng dè Bàng Quyên. (467-70)
Khi bọn này trả lời ông chủ quán, ta thấy rõ tính vô lễ và khinh người của chúng:
Kiệm rằng: Lão quán nói nhăng,
Dầu cho trải việc cũng thằng bán cơm.
Gối rơm theo phận gối rơm,
Có đâu ở thấp mà chồm lên cao. (523-26 )
Khi tin nhà đưa đến, nghe tin mẹ già mất, Lục Vân Tiên khóc mù mắt, bỏ cuộc thi trở về quê cũ. Giữa đường
chàng lại bọn này, chàng mù lòa nên phải trông cậy bạn giúp đỡ:
8
Tiên rằng: Tình trước nghĩa sau,
Có thương xin khá giúp nhau phen này (863-64)
Ở đời, lòng dạ con người khó lường. Ta không hề gặp mặt họ, ta cũng không tranh quyền đoạt lợi của họ. Ta
cũng không cướp tài sản hoặc giết hại cha mẹ, anh em họ, thế mà họ thù ghét, oán hận ta. Họ nói xấu, vu khống
ta. Thậm chí họ có thể giết hại ta. Vân Tiên không có thù oán gì với bọn này, không ngờ Trịnh Hâm, Bùi Kiệm
chỉ vì ganh tài mà hãm hại Vân Tiên. Chúng đem tiểu đồng vào rừng trói lại cho cọp ăn, rồi đêm đến xô Vân
Tiên xuống vực sâu.
Ngoài Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, Vân Tiên còn bị ba nhân vật gian manh khác bóc lột, lường gạt là thầy
thuốc, thầy bói và thầy pháp. Ba ông này giống nhau hai điểm chính. Thứ nhất là tự quảng cáo, là khoe khoang,
khoác lác.
Ông thầy thuốc:
Ngang rằng: Ta ở chốn này,
Ba đời nối nghiệp làm thầy vừa ba.
Sách chi cũng đủ trong nhà,
Nội kinh đã sẵn, ngoại khoa thêm màu.
Trước xem y học làm đầu,
Sau xem Thơ Thế, thứ cầu Đông Y (665-770 )
Ông thầy bói:
Ta đây nào phải các thầy,
Bá vơ, bá vất, nói nhây không nhằm.
Ôn nhuần Châu dịch mấy năm,
Sáu mươi bốn quẻ, ba trăm dư hào.
Huỳnh Kim, Dã Hạc sách cao,
Lục nhâm, lục giáp, chỗ nào chẳng hay. (715-20 )
Ông thầy pháp:
Pháp rằng: Ấn đã cao tay,
Lại thêm phù chú, xưa nay ai bì.
Qua sông, cá thấy xếp vi,
Vào rừng cọp thấy phải quỳ lạy đưa.
Pháp hay hú gió, kêu mưa,
Sai chim, khiến cọp, đuổi lừa, vật trâu.
Pháp hay miệng niệm một câu,
9
Tóm thâu muôn vật vào bầu hồ linh. (673-70 )
Ba ông thầy này đều giống nhau là tham lam, luôn chú trọng tiền bạc. Gặp Vân Tiên, cả ba thầy trước tiên là hỏi
tiền bạc.
Thầy thuốc chưa chửa bệnh đã hỏi tiền:
Gặp ta bệnh ấy ắt lành,
Bạc tiền trong túi sẵn dành bao nhiêu? (659-60 )
Thầy bói chưa gieo quẻ đã hỏi tiền:
Đặt tiền quan mốt bốn mươi,
Khay trầu chén rượu cho tươi mới thành.
Thầy bèn gieo đặng quẻ lành. (723-25 )
Ông này sau một hồi ba hoa, đã đề cập đến tiền:
Có ba trăm lạng đưa sang,
Đặng thầy sắm sửa lập đản chửa cho. (775-76 )
5.THIỆN NHÂN
Cuộc đời có nhiều màu sắc và có nhiều mâu thuẫn. Nếu trong cuộc đời có những kẻ ác thì
cũng có những người hiền lành, nhân từ đức hạnh. Vân Tiên đã gặp bọn gian ác nhưng
chàng cũng đã gặp những người trung hậïu. Nguyệt Nga là ánh trăng rằm trong đời chàng.
Ông chủ quán là người bình dân nhưng ông thực sự là tay minh kinh bác học. Những lời
nghị luận của ông chúng tỏ ông học rộng, hiểu nhiều và là người trung trực :
Quán rằng ghét việc tầm phào,
Ghét cay ghét đắng ghét vào tới tâm.
Ghét đời Kiệt Trụ mê dâm,
Để dân đến nỗi sa hầm, sẩy hang.
Ghét đời U Lệ đa đoan,
Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần
. . . . . . . . . .
Thương là thương bậc thánh nhân,
Khi nơi Tống, Vệ, lúc Trần, lúc Khuôn.
Thương thầy Nhan tử dở dang,
Ba mươi mốt tuổi tách đường công danh.
Thương ông Gia Cát tài lành,
Gặp cơn Hán mạt đã đành phôi pha. . .(479-494)
10
Vì vậy mà Vương Tử Trực khen ngợi ông:
Trực rằng: Chùa rách phật vàng,
Ai hay trong quán ẩn tàng kinh luân (505-06)
Vương Tử Trực là người đạo đức và trung trực đã từ chối lời cầu hôn của Võ Thể Loan
Trực rằng : ”Ngòi viết dĩa nghiên,
Anh em xưa có thề nguyền cùng nhau.
Vợ Tiên là Trực chị dâu,
Chị dâu em bạn dám đâu lỗi nghì.
Chẳng hay người học sách chi,
Nói sao những tiếng dị kỳ khó nghe?
. . . . . . . . . . .
Nói sao chẳng biết hổ thầm,
Người ta há phải là cầm thú sao? (1228-41)
Hán Minh can trường phá giặc và đem quân đón Vân Tiên. Lão ngư, lão tiều cũng là những người tốt. Nói chung,
ta có thể phân chia các nhân vật trong Lục Vân Tiên làm hai loại thiện ác.
III. CHUNG CUỘC
Ở đời, một số người hoàn toàn sung sướng, trái lại một số người luôn đau khổ. Một số lúc bĩ, lúc thái. Đó là
trường hợp của Lục Vân Tiên. Sau khi bị bao tai nạn, chàng được cứu thoát, được thuốc tiên chữa lành mắt, thi
đỗ trạng nguyên và được Nguyệt Nga yêu, và cả hai sống hạnh phúc.
Trạng nguyên về đến Đông thành,
Lục ông trước đã xây dinh ở làng.
Bày ra sáu lễ sẵn sàng,
Các quan đi họ cưới nàng Nguyệt Nga.
Sui gia đã xứng sui gia,
Rày mừng hai họ một nhà thành thân.
Trăm năm biết mấy tinh thần,
Sinh con sau nối gót lân đời đời (2054-61)
Trong khi đó những kẻ ác gian bị Trời trừng phạt. Trịnh Hâm té xuống sông bị cá nuốt, mẹ con Thể Loan bị
cọp nhốt trong hang:
Thiệt Trời báo ứng lẽ này rất ưng,
Thấy vậy nên dửng dừng dưng,
Làm ngưòi ai nấy thì đừng bất nhân (1192-94)
11
Đó là lẽ báo ứng, là luật nhân quả mà Khổng và Phật luôn đề cao trong kinh điển, trong văn chương và
trong đời sống
Lục Vân Tiên là giấc mơ của Nguyễn Đình CHiểu. Lục Vân Tiên đã qua cơn hoạn nạn và được vinh hiển,
trái lại, Nguyễn Đình Chiểu một đời khốn khó, bản thân ông cũng như quốc gia Việt Nam phải trải qua bao nỗi
dắng cay từ khi mất nước.
Nguyễn Thiên Thụ
Văn bản Lục Vân Tiên, những đính chính từ góc độ ngôn ngữ và văn hóa
Gắn liền với tên tuổi của nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, Lục Vân Tiên ngay từ khi ra đời đã trở thành một phần
của đời sống văn học, văn hóa của người dân Nam Bộ nói riêng và cả dân tộc Việt Nam nói chung. Làm sáng tỏ những
"điểm mờ" trong văn bản do những khoảng cách về thời gian và điểm nhìn văn hóa gây ra không chỉ giúp người đọc hiểu
thêm văn phong, tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu mà còn góp phần khẳng định giá trị của tiếng Việt trong tiến trình
phát triển chung của văn hóa dân tộc. Trong truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, câu "Vợ Tiên là Trực chị dâu"
là câu thơ bị dư luận phê bình nhiều nhất. Có người coi đó là một câu thơ "dễ dãi, chưa được trau chuốt", có người chỉ
giải thích đó là "tác giả theo cú pháp chữ Hán" nhưng có nhiều người đã cho câu thơ này chỉ là một câu vè, không xứng
đáng với văn tài trác tuyệt của Nguyễn Đình Chiểu. Người đầu tiên chịu trách nhiệm về việc phiên âm câu thơ này là Jan-
nô (1867), người kế tiếp là A-ben đê Mi-sen (1883) sau đó là Trương Vĩnh Ký (1889), Văn Minh (1824), Phạm Văn Thình
(1932), Đinh Xuân Hội (1943), Dương Quảng Hàm (1944). Đối với Jan-nô và A-ben đê Mi-sen là hai người nước ngoài, thì
việc tìm hiểu câu thơ một cách chặt chẽ chưa phải là một điều bắt buộc, nhất là công việc làm của họ không thuần có
tính chất văn hóa, không nhằm vào việc phục vụ quyền lợi của người Việt Nam.
Cách đặt bổ ngữ trước chủ ngữ là cách đặt câu quen thuộc của người Pháp; chắc hẳn Jan-nô và A-ben đê Mi-sen đã rất
thích thú khi phát hiện được trong một tác phẩm nước ngoài, một câu như câu "Vợ Tiên là Trực chị dâu" mà cấu trúc
phảng phất giống như trong các bản kịch nói hoặc thơ ngụ ngôn thế kỷ 17 của văn học nước họ. Văn cảnh do đoạn thơ
từ câu 1231 đến 1233 cũng rất thuận lợi cho cách hiểu và cách đọc của họ; ngôn ngữ của Vương Tử Trực, cách chàng tự
xưng hô bằng tên tục mà ta thấy trong đoạn thơ 383-385 cũng dễ dàng biện minh cho tổ hợp từ Trực chị dâu, do chính
Vương Tử Trực dùng để nói chuyện với Võ Công. Như vậy cách đọc có vẻ Tây phương của hai ông Jan-nô và A-ben đê
Mi-sen có thể giải thích được, và cũng chính vì thế mà nó được các nhà nghiên cứu Việt Nam chấp nhận một cách vô
điều kiện.
Vì khâm phục lòng yêu nước và yêu tiếng mẹ đẻ của Nguyễn Đình Chiểu, mà tôi tự cho tôi có nhiệm vụ phải xem lại
phương pháp khảo đính và chú thích Lục Vân Tiên. Tôi đã phát hiện hàng trăm trường hợp có vấn đề phải cân nhắc lại
cách phiên âm chữ Nôm và cách hiểu các từ cổ trong Lục Vân Tiên.
Trong bài này, tôi chỉ nói đến hai trường hợp, đến câu thơ số 1233 và số 136. Để làm công việc này, tôi dùng bản Nôm
Lục Vân Tiên Ca Diễn (LVTCD) của Trần Ngươn Mạnh làm bản gốc; bản này tuy không phải là nguyên bản - làm sao có
thể có được nguyên bản Lục Vân Tiên một khi ta biết rằng chính tác giả cũng không hề viết nó, mà chỉ đọc cho người
khác viết - nhưng có khả năng gần với nguyên bản nhất; chữ Nôm trong bản văn cũng chỉ được viết một cách rất tùy
tiện, nhưng nói chung những khuyết điểm của nó về tự dạng có thể biện minh được một cách dễ dàng.
Trong Lục Vân Tiên Ca Diễn, câu 1233 là Vợ Tiên là Trực chị dâu, chữ trực Hán - Việt đã được viết một cách rõ ràng
không thể lộn với một chữ nào khác; Hán văn cũng chỉ có một từ trực cho nên chữ viết dễ dàng được đọc là trực, và chỉ
có thể đọc là trực. Có lẽ vì lý do này mà các ông Jan-nô và A-ben đê Mi-sen đứng trước những bản Nôm mà các ông có
trong tay, đã quyết định đọc là Trực, và hiểu là Vương Tử Trực.
Tôi cũng cho rằng, ta có thể đọc như thế nếu không vấp phải sự chặt chẽ của ngữ pháp tiếng Việt. Cú pháp Việt đôi khi
cũng chấp nhận cho bổ ngữ đứng trước vị ngữ, tỉ dụ: Chàng đà lâm bịnh, huỳnh-tuyền- xa chơi (LVTCD, câu 1210), Ba
tầng cửa Võ, một giờ nhảy qua (428). Những hình thức kiểu Trực chị dâu không phải là không có ngay trong Lục Vân
Tiên, tỉ dụ: Chẳng hay quân tử quê hương nơi nào? (186), Song đường tuổi hạc đã cao (55), nhưng hai câu này là hai
câu trọn vẹn, trong khi tổ hợp từ Trực chị dâu chỉ là một khóm từ.
Như vậy, câu "Vợ Tiên là Trực chị dâu" là một câu viết sai ngữ pháp. Cuối cùng, xét theo văn cảnh, đây là cuộc đối thoại
giữa Vương Tử Trực và Võ Công; Trực đứng vào hàng con cháu của Võ Công, do đó, chàng không thể dùng tên tục mà
xưng hô với Võ Công được. Có giận Võ Công lắm thì chàng cũng chỉ dám gọi ông là người và xưng trống không với ông,
chứ tuyệt nhiên chàng không dám xưng là Trực. Dù câu Vợ Tiên là Trực chị dâu, có được kể là viết đúng ngữ pháp đi
chăng nữa, phong tục cũng không cho phép tác giả viết một câu như thế. Một người vẫn tự coi là có nhiệm vụ làm bình
phong cho phong tục như Nguyễn Đình Chiểu chắc chắn là không bao giờ có thể viết nên một câu có tính chất phản -
phong - tục như vậy.
12
Như vậy, câu thơ "Vợ Tiên là Trực chị dâu" phải được hiểu theo cách khác, đó là: "Vợ Tiên là Trực chị dâu" - chữ trực
trong trường hợp này không phải là một từ Hán - Việt nữa mà là một từ Nôm; nó cũng không phải là một danh từ riêng
nữa mà là một danh từ chung mà bất cứ từ điển chữ Nôm nào cũng có. Taberd ghi: một trực: UNO TENORE (chỉ một
mực, một thế); trực nầy: HAEC MENSURA, QUANTITAS (chừng nầy, số lượng nầy); trực ấy: ILLA MENSURA,
QUANTITAS, QUALITAS (mực ấy, chừng ấy, phẩm chất ấy). Huỳnh Tịnh Của ghi: Cứ một trực: cứ một mực, một thế.
Trực ấy: mực ấy.
Theo lời chua của Taberd về từ mực, thì mực có thể chỉ về người hay chỉ về sự vật, nghĩa là đồng nghĩa với bực hay bậc,
chỉ một vị thứ cao (đấng bậc), một thân phận, một phẩm trật.
Để cho ý nghĩa của từ trực được sáng tỏ hơn, và để tìm hiểu xem nó có họ hàng gì với những từ mực, bực, bậc không,
có lẽ ta nên quay về phía từ cổ để tìm ra tung tích của nó. Từ điển A-léc-xăng đờ Rốt (viết tắt là ADR) cho ta có dịp nhận
xét rằng các từ có tổ hợp phụ âm đầu bl/thường sản sinh ra những từ có tổ hợp phụ âm đầu tl/, hoặc những từ có phụ
âm đầu môi, như b/v/m, tỉ dụ:
BL TL TR B
blật móng tlật móng trật móng bật móng
blây (tường) tlây trây (cái) bay
ngồi blệt ngồi tlệt ngồi trệt, lệt ngồi bệt
blan thờ tlan thờ tran thờ bàn thờ
blật tlật trật, trực bực, mực v.v
Xét theo bảng trên thì từ trật Hán-Việt có âm cổ là blật, blật đẻ ra trật và trực, đồng thời còn đẻ ra bực, mực nếu người
phát âm chỉ nhấn mạnh vào tiền tố b/ của tổ hợp phụ âm đầu bl/. Như vậy, xét về thời gian xuất hiện, từ trật đã chuyển
ý nghĩa không gian sang ý nghĩa thời gian (một trật = một lúc), trong khi từ trực và bực vẫn giữ nguyên nghĩa của từ
trật để chỉ về thứ bậc xã hội. Như vậy, trong câu thơ Vợ Tiên là trực chị dâu, từ trực có thể được thay thế bằng những từ
tương đương như: mực, chừng, tư thế, tư cách, bực, thứ bực, hàng, lớp, đấng, v.v. Truyện Lục Vân Tiên không thiếu gì
những hình thức tương tự như: bậc cố tri (1221), bậc tài năng (450), trang thục nữ (112), đấng anh hùng (216), dòng
lâu la (144),v.v.
Đọc câu thơ 1253 là vợ tiên là trực chị dâu, ta vừa tôn trọng mặt chữ Nôm, vừa duy trì được một từ cổ, vừa tránh cho
Nguyễn Đình Chiểu một lỗi ngữ pháp lớn, mà các nhà phiên âm ngoại quốc vì không hiểu thấu đáo tinh thần tiếng Việt
đã gán một cách oan uổng cho nhà văn đáng kính.
Bị tin một gậy chàng rày mạng vong
Đây là câu 136 trong Lục Vân Tiên Ca Diễn. Chữ Tin được viết là tiên (bộ nhật + sơn) nên tất cả các bản Lục Vân Tiên
đều ghi là: Bị Tiên một gậy, chàng rày mạng vong.
Người đầu tiên xướng lên cách đọc này vẫn là Jan-nô và A-ben đê Mi-sen, sau đó đến Trương Vĩnh Ký và tiếp tục cho
đến ngày nay.
Thực ra, đọc là bị Tiên một gậy tuy không được ổn thỏa nhưng cũng dễ hiểu; vấn đề cơ bản mà chúng ta cần phải đặt ra
và giải quyết và viết như thế có đúng ngữ pháp không, có lột tả được tinh thần của tiếng Việt không?
Đứng về mặt ngữ pháp mà nói, câu đó không thể giải thích được về cách đặt từ, tại sao lại nói là bị Tiên một gậy? Dù ta
có thể hiểu "bị Tiên một gậy" là "bị Tiên đập cho một gậy", nhưng chính vì thiếu một động từ mà câu thơ đáng lẽ ra rất
đẹp ấy lại bị què như câu thơ 123. Ta phải tìm ra động từ ấy, động từ mà tác giả của nó chắc chắn lựa chọn rất kỹ và đã
đặt vào một chỗ rất thích đáng.
Quả thực, động từ ấy nằm trong từ tiên, đọc là tin, nghĩa là đánh nhằm, đánh trúng vào chỗ hiểm, chỗ trung tâm, chỗ
quan trọng nhất. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã ghi được từ tin theo nghĩa này: Phỏng tin được một vài phần hay
không (Truyện Kiều, 2194); Đã tin điều trước ắt nhằm việc sau (Truyện Kiều, 2410).
Trong câu thơ của Nguyễn Đình Chiểu: Bị tin một gậy, chàng rày mạng vong, tác giả làm nổi bật được một sự kiện quan
trọng là uy vũ của Lục Vân Tiên: tác giả câu văn không nhắc đến tên của Lục Vân Tiên, không mô tả việc chàng múa gậy
như thế nào; ta chỉ biết chàng bẻ cây làm gậy (câu 124); chàng xông vào bọn cướp (câu 131), thế là bọn cướp bị đập
tan (câu 133), Phong Lai bị một gậy chết tốt (câu 136). Không ai thấy bóng dáng của Vân Tiên đâu cả; Tác giả có ý
không nhắc đến tên Vân Tiên, muốn cho chàng trở thành vô hình như một ông thần, cốt để đề cao võ công của chàng.
Ngay đến khi cuộc chiến đấu đã chấm dứt, tác giả vẫn còn muốn duy trì tính vô hình ấy của nhân vật. ở câu 137, tác giả
chỉ viết: Dẹp rồi lũ kiến chòm ong; ở câu 138: Hỏi: "Ai than khóc ở trong xe nầy", tác giả chỉ cho Vân Tiên xuất hiện một
cách bình thường từ câu 144: Vân Tiên nghe nói động lòng.
Nếu đọc câu thơ 136 là: Bị Tiên một gậy, chàng rày mạng vong, ta sẽ làm đổ vỡ cấu trúc toàn bộ đoạn văn, hiểu sai lạc
ý của tác giả.
Xét về mặt chữ Nôm, các nhà phiên âm Lục Vân Tiên đã có lý khi họ phiên âm chữ tiên (bộ nhân + sơn) là Tiên tức Lục
Vân Tiên, nhưng chữ tiên (bộ nhân + sơn) rất giống với chữ tín (bộ nhân + ngôn) khi chữ sơn và chữ ngôn được viết rẻ.
Khi Trần Ngươn Mạnh hòa đúc các bản Nôm mà ông có trong tay để viết lại thành tập Lục Vân Tiên Ca Diễn, rất có thể
đã gặp một chữ hán có bộ nhân, ở trong đó có nhấp nháy một hai nét giống như bộ băng, bộ thủy, hay bộ tâm, cho nên
đã đọc chữ ấy thành chữ tiên, chỉ vì ông có định kiến cho rằng, chiếc gậy đã đập chết Phong Lai chỉ có thể là của Vân
Tiên, nên ông đọc ngay là Bị Tiên một gậy, cho đó là rõ ràng và hợp lý, trong khi trong một bối cảnh khác, với một cách
hiểu có tính ngữ pháp hơn, nghĩa là khoa học hơn, một người khác sẽ đọc chữ đó là chữ tin Hán - Việt, là chữ tin nôm.
Muốn biết cách đọc nào đúng, chỉ có một cách là xem lại những bản Nôm mà Trần Ngươn Mạnh và A-ben đê Mi-sen đã
sưu tầm được, và một khi nắm được những tư liệu đó trong tay, ta mới quả quyết được một cách chính xác.
Trong tình trạng nghiên cứu hiện nay, ta chỉ nên bằng lòng với một vài dự đoán, một vài nghi ngờ có tính phương pháp
(doute métthodique), có căn cứ khách quan, và chỉ với một vài cứ liệu khiêm tốn đó, ta cũng có thể tái lập được nguyên
13
bản một cách tương đối.
Như vậy, câu 136 mà ta thường đọc theo các nhà nghiên cứu phương Tây là Bị Tiên một gậy, chàng rày mạng vong nên
đọc lại là: Bị tin một gậy, chàng rày mạng vong, hiểu tin là trúng, đúng như định nghĩa của Việt Nam từ điển và Từ điển
tiếng Việt.
Tôi vừa xét cách đọc hai câu thơ 136 và 1233 trong Lục Vân Tiên Ca Diễn, tôi sẽ có dịp bàn lại cách đọc của 98 câu thơ
khác, tỉ dụ như câu 126: Chớ quen làm thói mồ hồ hại dân, tôi đề nghị đọc mồ hồ (hay hồ đồ) là nhung hồ (thói nhung
hồ là thói ăn cướp của rợ Nhung, rợ Hồ ở phía bắc Trung Quốc).
Câu 128: Thằng nào dám tới lẫy lừng vào đây, tới chính thực là tế;
Câu 221: Vân Tiên xem thấy ngạt ngào là Vân Tiên xem, thấy ngạt ngào, hiểu thấy là tự cảm thấy, ngạt ngào là ngạc
nhiên đến nỗi như bị nghẹn hơi;
Câu 303: Kề nơi võ miếu cũng gần, từ võ miếu phải được đọc là dõ điếm, tức điếm canh đêm;
Câu 393: Gọi là chút nghĩa tống tình, chính là chuốt ngãi tống tình;
Câu 640: Mình đi đã mệt, dòng châu thêm nhuần, ta không nói châu nhuần mà châu nhừng;
Câu 82: Đồng rằng: Trong túi vắng hoe, vắng hoe phải được đọc đúng mặt chữ Nôm là xáp ve, tức xóp ve, xép ve, giẹp
lép, lép kẹp;
Câu 1000: Nắng dùn chóp nón, mưa dầm áo tơi là: Nắng rong giúp nón, mưa dầm giúp tơi;
Câu 1492: Bóng trăng vặc vặc, bóng sao mờ mờ là bóng trăng vẩn vẩn, bóng sao mờ mờ;
Câu 1565: Đêm đêm trằn trọc phòng hoa mấy lần, trằn trọc không có nghĩa, phải đọc là rần rục, nghĩa là khuấy phá, làm
huyên náo trước cửa phòng Nguyệt Nga;
Câu 1648: Có bầy đôm đốm sáng nhờ đi theo, sáng nhờ chính là nháng nhờ, sáng lên một chút rồi tắt, đồng nghĩa với
nhấp nháy, lập lòe;
Câu 1784: Thấy chàng hóa phép dùng mình trở lui, dùng mình theo mặt chữ Nôm phải được đọc là dún mình, biểu
dương khinh công trác tuyệt của Hớn Minh;
Câu 1788: Thấy ngươi Cốt Đột biến đồ yêu ma, chữ đồ còn có thể đọc là trò;
Câu 1830: Đêm khuya, lạ mặt, có vào nhà ta, chữ có còn đọc là rố nghĩa là xông xáo một cách bừa bãi;
Câu 1948: Cũng vì thuở trước tại ta lỗi dùng, chữ lỗi còn đọc là rủi, tức là lỡ.
Ngoài ra, tôi đề nghị phải định nghĩa tất cả mọi từ cổ, vạch rõ sự khác biệt giữa những từ cổ này và các từ đồng âm hiện
đại, tỉ dụ từ hãy (các câu 47, 50, 257) phải được giải thích là còn, còn đang, từ tốt (106, 1386) là đẹp;
Duông nhan lạnh lùng (110) là đẹp (duông nhan hay hồng nhan đều nghĩa là có sắc đẹp) một cách vô cùng quyến rũ
(lạnh lùng là một từ chỉ tính cách tuyệt đối);
Phui pha hay phôi pha ngoài nghĩa thông thường là phai nhạt, tàn tạ (1628), còn có nghĩa là khỏa lấp, lấp liếm, bỏ qua
không ngó tới (186,946);
Phai, ngoài nghĩa thông thường ở câu 276, còn có nghĩa cổ là quên ở câu 204: Một lời cũng phải, ngàn vàng cũng phai,
đổi cũng phai thành chẳng phai là không hiểu nghĩa cổ của từ phai, và hiểu ngược ý muốn của tác giả; những từ: một
khi, một giờ, chạy ngay, xúi thầy, dẫy xe, tếch dặm, chịu lấy, làm khuấy, với với, thiên oan, làu làu, toan việc, hản dạ,
v.v phải được chú thích kỹ lưỡng nếu không, câu thơ sẽ bị hiểu sai (hiểu theo nghĩa hiện đại) và trở thành những câu
thơ dở, tỷ dụ tổ hợp từ một giờ, ít người hiểu ý nghĩa đen của nó là liền, ngay, tức thì, cho nên khi đọc câu "Phút thơ
Tiên, Trực một giờ đều xong" (464) họ không hiểu vì sao Tiên Trực làm thơ chậm chạp như thế, một giờ mới làm xong
một bài thơ, 56 chữ, mà lại được "Kiệm, Hâm khiếp phục".
Cũng vì không hiểu thiên oan (776) là thiên uyên, nên Trương Vĩnh Ký đã đọc là thiên hoang, và cách đọc sai này vẫn
được nhiều người theo.
Vẫn biết rằng những từ này, dù đã bị lâu năm đọc sai và hiểu sai, vẫn không có tác dụng làm suy giảm tài năng của
Nguyễn Đình Chiểu cũng như chính những từ này, dù có được điều chỉnh lại một cách đúng đắn đi chăng nữa, chưa chắc
đã có ảnh hưởng gì đến giá trị tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu mà thực chất đã vượt lên trên khuôn khổ của từ ngữ.
Sở dĩ chúng ta muốn uốn nắn lại đôi chút cách đọc một số từ trong Lục Vân Tiên là vì chúng ta chỉ muốn hợp lý với chính
ta, và nhất là để đính chính những chữ mà các nhà nghiên cứu nước ngoài đã đọc một cách quá tùy tiện.
Tôi hy vọng rằng thiện chí của tôi sẽ được dư luận và các nhà nghiên cứu văn học chú ý.
Về cuốn phim màu Lục Vân Tiên năm 1957
Thi phẩm Lục Vân Tiên của văn hào Nguyễn Ðình Chiểu đã từng được soạn thành tuồng cải lương, trình diễn trên sân khấu
từ thập niên 1940 và cho đến nay thỉnh thoảng vẫn còn thấy Lục Vân Tiên-Nguyệt Nga xuất hiện qua các sô hát ở hải ngoại.
Về cuốn phim màu Lục Vân Tiên năm 1957
Thế nhưng, về lãnh vực phim ảnh thì chỉ duy nhứt được thực hiện một lần vào năm 1957 mà các kỳ trước chúng tôi có đề
cập sơ qua, và hôm nay xin nói rõ thêm về cuốn phim nói trên được thực hiện ra sao, do hãng phim nào, cũng như có được
sự thành công hay không ?
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét