- Chi tiết theo không gian phát sinh của hiện tượng và kết quả kinh tế: chia nhỏ qúa
trình và kết quả theo địa điểm phát sinh và phát triển của chỉ tiêu nghiên cứu.
1.2.3. Phương pháp liên hệ, đối chiếu
Liên hệ, đối chiếu là phương pháp phân tích sử dụng để nghiên cứu, xem xét mối
liên hệ kinh tế giữa các sự kiện và hiện tượng kinh tế, đồng thời xem xét tính cân đối của
các chỉ tiêu kinh tế trong quá trình hoạt động. Sử dụng phương pháp này cần chú ý đến
các mối liên hệ mang tính nội tại, ổn định, chung nhất và được lặp đi lặp lại, các liên hệ
ngược, liên hệ xuôi, tính cân đối tổng thể, cân đối từng phần Vì vậy, cần thu thập được
thông tin đầy đủ và thích hợp về các khía cạnh liên quan đến các luồng chuyển dịch giá trị
và sự vận động của các nguồn lực trong doanh nghiệp.
1.2.4. Phương pháp phân tích nhân tố:
Phân tích nhân tố là phương pháp được sử dụng để nghiên cứu, xem xét các chỉ
tiêu kinh tế tài chính trong mối quan hệ với các nhân tố ảnh hưởng thông qua việc xác
định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố và phân tích thực chất ảnh hưởng của các nhân
tố đến chỉ tiêu phân tích.
a) Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố: là phương pháp được sử dụng
để xác định xu hướng và mức độ ảnh hưởng cụ thể của từng nhân tố đến chỉ tiêu nghiên
cứu. Có nhiều phương pháp xác định ảnh hưởng của các nhân tố, sử dụng phương pháp
nào tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa chỉ tiêu phân tích với các nhân tố ảnh hưởng. Các
phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố thường được sử dụng trong
phân tích tài chính doanh nghiệp là:
Phương pháp loại trừ: Để xác định xu hướng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân
tố đến chỉ tiêu phân tích, người ta sử dụng phương pháp loại trừ tức là để nghiên cứu ảnh
hưởng của một nhân tố phải loại trừ ảnh hưởng của nhân tố khác. Đặc điểm của phương
pháp này là luôn đặt đối tượng phân tích vào các trường hợp giả định khác nhau. Tuỳ
thuộc vào mối quan hệ giữa chỉ tiêu phân tích với các nhân tố ảnh hưởng mà sử dụng
phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp số chênh lệch hay phương pháp hiệu số tỷ
lệ.
Phương pháp thay thế liên hoàn là phương pháp xác định ảnh hưởng của từng
nhân tố bằng cách thay thế lần lượt và liên tiếp các nhân tố từ giá trị kỳ gốc sang kỳ phân
tích để xác định trị số của chỉ tiêu khi nhân tố đó thay đổi. Sau đó, so sánh trị số của chỉ
tiêu vừa tính được với trị số của chỉ tiêu chưa có biến đổi của nhân tố cần xác định sẽ tính
được mức độ ảnh hưởng của nhân tố đó. Đặc điểm và điều kiện áp dụng phương pháp
thay thế liên hoàn như sau:
- Xác định chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu;
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu;
- Mối quan hệ giữa chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu với các nhân tố ảnh
hưởng thể hiện dưới dạng tích số hoặc thương số;
- Sắp xếp các nhân tố ảnh hưởng và xác định ảnh hưởng của chúng đến chỉ tiêu
phản ánh đối tượng nghiên cứu theo thứ tự nhân tố số lượng được xác định trước rồi mới
đến nhân tố chất lượng; trường hợp có nhiều nhân tố số lượng hoặc nhiều nhân tố chất
lượng thì xác định nhân tố chủ yếu trước rối mới đến nhân tố thứ yếu sau;
5
- Thay thế giá trị của từng nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng
nghiên cứu một cách lần lượt. Cần lưu ý là có bao nhiêu nhân tố thì thay thế bấy nhiêu lần
và nhân tố nào đã thay thế thì được giữ nguyên giá trị đã thay thế (kỳ phân tích) cho đến
lần thay thế cuối cùng;
- Tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố và so với số biến động tuyệt đối của chỉ tiêu
phản ánh đối tượng nghiên cứu giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc.
Phương pháp thay thế liên hoàn có thể được khái quát như sau:
Chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu là Q và Q chịu ảnh hưởng của các nhân tố
a, b, c, d. Các nhân tố này có quan hệ với Q và được sắp xếp theo thứ tự từ nhân tố số
lượng sang nhân tố chất lượng, chẳng hạn Q = abcd. Nếu dùng chỉ số 0 để chỉ giá trị của
các nhân tố ở kỳ gốc và chỉ số 1 để chỉ giá trị của các nhân tố ở kỳ phân tích thì Q
1
=
a
1
b
1
c
1
d
1
và Q
0
= a
0
b
0
c
0
d
0
. Gọi ảnh hưởng của các nhân tố a, b, c, d đến sự biến động giữa
kỳ phân tích so với kỳ gốc của chỉ tiêu Q (ký hiệu là ∆ Q) lần lượt là ∆ a, ∆ b, ∆ c, ∆ d, ta
có:
∆ Q = Q
1
- Q
0
= ∆ a + ∆ b + ∆ c + ∆ d.
Trong đó:
∆ a = a
1
b
0
c
0
d
0
- a
0
b
0
c
0
d
0
.
∆ b = a
1
b
1
c
0
d
0
- a
1
b
0
c
0
d
0
.
∆ c = a
1
b
1
c
1
d
0
- a
1
b
1
c
0
d
0
.
∆ d = a
1
b
1
c
1
d
1
- a
1
b
1
c
1
d
0
.
Phương pháp số chênh lệch là phương pháp cũng được dùng để xác định ảnh
hưởng của các nhân tố đến sự biến động của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu. Điều
kiện, nội dung và trình tự vận dụng của phương pháp số chênh lệch cũng giống như
phương pháp thay thế liên hoàn, chỉ khác nhau ở chỗ để xác định mức độ ảnh hưởng của
nhân tố nào thì trực tiếp dùng số chênh lệch về giá trị kỳ phân tích so với kỳ gốc của nhân
tố đó (thực chất là thay thế liên hoàn rút gọn áp dụng trong trường hợp chỉ tiêu phản ánh
đối tượng nghiên cứu có quan hệ tích số với các nhân tố ảnh hưởng). Dạng tổng quát của
số chênh lệch như sau:
∆ Q = Q
1
- Q
0
= ∆ a + ∆ b + ∆ c + ∆ d.
Trong đó:
∆ a = (a
1
- a
0
)b
0
c
0
d
0
.
∆ b = (b
1
- b
0
)a
1
c
0
d
0
.
∆ c = (c
1
- c
0
)a
1
b
1
d
0
.
∆ d = (d
1
- d
0
) a
1
b
1
c
1
.
Phương pháp cân đối: Phương pháp cân đối là phương pháp được sử dụng để xác
định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu nếu
chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu có quan hệ với nhân tố ảnh hưởng dưới dạng tổng
hoặc hiệu. Xác định mức độ ảnh hưởng nhân tố nào đó đến chỉ tiêu phân tích, bằng
phương pháp cân đối người ta xác định chênh lệch giữa thực tế với kỳ gốc của nhân tố ấy.
Tuy nhiên cần để ý đến quan hệ thuận, nghịch giữa nhân tố ảnh hưởng với chỉ tiêu phản
ánh đối tượng nghiên cứu.
6
Phương pháp cân đối có thể khái quát như sau:
Chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu là M chịu ảnh hưởng của nhân tố a,b,c thể
hiện qua công thức: M = a + b - c
Nếu dùng chỉ số 0 để chỉ giá trị của các nhân tố ở kỳ gốc và chỉ số 1 để chỉ giá trị
của các nhân tố ở kỳ phân tích thì M
1
= a
1
+b
1
-c
1
và M
0
= a
0
+b
0
-c
0
d
0
. Gọi ảnh hưởng của
các nhân tố a, b, c đến sự biến động giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc của chỉ tiêu M (ký
hiệu là ∆M) lần lượt là ∆ a, ∆ b, ∆ c ta có:
∆ M = M
1
- M
0
= ∆ a + ∆ b + ∆ c
Trong đó:
Mức độ ảnh hưởng của nhân tố a: ∆a = a
1
– a
0
Mức độ ảnh hưởng của nhân tố b: ∆b = b
1
– b
0
Mức độ ảnh hưởng của nhân tố c: ∆c = - (c
1
– c
0
)
b) Phân tích thực chất của các nhân tố
Sau khi xác định được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố, để có đánh giá và dự
đoán hợp lý, trên cơ sở đó đưa ra các quyết định và cách thức thực hiện các quyết định cần
tiến hành phân tích tính chất ảnh hưởng của các nhân tố. Việc phân tích được thực hiện
thông qua chỉ rõ và giải quyết các vấn đề như: chỉ rõ mức độ ảnh hưởng, xác định tính
chất chủ quan, khách quan của từng nhân tố ảnh hưởng, phương pháp đánh giá và dự đoán
cụ thể, đồng thời xác định ý nghĩa của nhân tố tác động đến chỉ tiêu đang nghiên cứu, xem
xét.
1.2.5. Phương pháp dự đoán
Phương pháp dự đoán được sử dụng để dự báo tài chính doanh nghiệp. Có nhiều
phương pháp khác nhau để dự đoán các chỉ tiêu kinh tế tài chính trong tương lai; trong đó,
phương pháp hồi quy được sử dụng khá phổ biến. Theo phương pháp này, các nhà phân
tích sử dụng số liệu quá khứ, dữ liệu đã diễn ra theo thời gian hoặc diễn ra tại cùng một
thời điểm để thiết lập mối quan hệ giữa các hiện tượng và sự kiện có liên quan. Thuật ngữ
toán gọi là sự nghiên cứu mức độ tác động của một hay nhiều biến độc lập (biến giải
thích) đến một biến số gọi là biến phụ thuộc (biến kết quả). Mối quan hệ này được biểu
diễn dưới dạng phương trình gọi là phương trình hồi quy. Dựa vào phương trình hồi quy
người ta có thể giải thích kết quả đã diễn ra, ước tính và dự báo những sự kiện sẽ xảy ra
trong tương lai. Phương pháp hồi qui thường được sử dụng dưới dạng hồi quy đơn, hồi
quy bội để đánh giá và dự báo kết quả tài chính của doanh nghiệp.
Phương pháp hồi quy đơn (hay hồi quy đơn biến) là phương pháp được dùng để
xem xét mối quan hệ giữa một chỉ tiêu phản ánh kết quả vận động của một hiện tượng
kinh tế (gọi là biến phụ thuộc) với chỉ tiêu phản ánh nguyên nhân (gọi là biến độc lập).
Phương trình hồi quy đơn có dạng: Y= a +bx
Trong đó:
- Y là biến phụ thuộc; x là biến độc lập;
- a là tung độ gốc (nút chặn trên đồ thị); b là hệ số góc (độ dốc hay độ nghiêng của
đường biểu diễn Y trên đồ thị).
7
Trong phương pháp hồi quy đơn, với mục đích là giải thích hoặc dự báo một chỉ
tiêu cần nghiên cứu, nên việc quan trọng nhất là tìm ra giá trị của a, b. Trên cơ sở đó, xây
dựng phương trình hồi quy tuyến tính để ước lượng các giá trị của Y ứng với mỗi giá trị
của x.
Để xác định giá trị thông số a và b người ta sử dụng các phương pháp như phương
pháp cực đại, cực tiểu, phương pháp bình phương tối thiểu hoặc sử dụng phần mềm Excel
trên máy vi tính. Chẳng hạn, theo phương pháp cực đại, cực tiểu, giá trị các thông số a, b
được xác định như sau:
Ymax - Ymin
b =
Xmax - Xmin
a = Y- bx hoặc a =
XbY
−
Với phương pháp bình phương tối thiểu, các thông số a, b được xác định theo công
thức:
( )( )
( )
∑
∑
∑
−
∑
=
=
=
=
−
−
=
−−
=
n
i
n
i
n
i
n
i
XXi
XXi
n
YXnXiYi
b
hay
YYiXXi
b
1
22
1
1
2
1
a =
XbY
−
Phương pháp hồi quy bội (hồi quy đa biến là phương pháp được sử dụng để phân
tích mối quan hệ giữa nhiều biến độc lập với một biến phụ thuộc (một chỉ tiêu kết qủa với
nhiều chỉ tiêu nguyên nhân). Trong thực tế, có nhiều mô hình phân tích sử dụng hồi quy
đa biến, như phân tích và dự báo doanh thu của doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt hàng,
phân tích tổng chi phí với nhiều nguyên nhân tác động…
Một chỉ tiêu kinh tế chịu sự tác động cùng lúc của nhiều nhân tố cả thuận chiều lẫn
ngược chiều, như doanh thu phụ thuộc vào số lượng hàng bán, kết cấu hàng bán, giá cả
hàng hoá, thu nhập bình quân xã hội, mùa vụ, thời tiết, quảng cáo giới thiệu… Mặt khác,
giữa các nhân tố cũng có mói quan hệ nội tại. Vì vậy, phân tích hồi quy vừa kiểm định giả
thiết về nhân tố tác động và mức độ ảnh hưởng, vừa định lượng các quan hệ kinh tế giữa
chúng. Từ đó có cơ sở cho phân tích dự báo và có quyết định phù hợp, có hiệu quả trong
việc thực hiện mục tiêu mong muốn của các đối tượng.
Phương trình hồi quy đa biến tổng quát dưới dạng tuyến tính là:
Y= b
0
+b
1
x
1
+ b
2
x
2
+… + b
i
x
i
+… + b
n
x
n
+ e
Trong đó:
Y: biến phụ thuộc (chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu) và được hiểu là ước
lượng (Y);
8
b
0
là tung độ gốc; b
i
các độ dốc của phương trình theo các biến x
i;
x
i
các biến độc lập (nhân tố ảnh hưởng); e các sai số
Mục tiêu của phương pháp hồi quy đa biến là dựa vào các dữ liệu lịch sử về các
biến Yi và Xi, dùng thuật toán để tìm các thông số b
0
và b
i
xây dựng phương trình hồi quy
để dự báo cho ước lượng trung bình của biến Y.
1.2.6. Phương pháp Dupont
Là phương pháp phân tích dựa trên mối quan hệ tương hỗ giữa các chỉ tiêu tài
chính, từ đó biến đổi một chỉ tiêu tổng hợp thành một hàm số của một loạt các biến số.
Chẳng hạn: tách hệ số khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) hay hệ số khả năng
sinh lời của tài sản (ROA), thành tích số của chuỗi các hệ số có mối quan hệ mật thiết
với nhau.
Sơ đồ 6.1: Vận dụng phương pháp Dupont để phân tích ROE
1.2.7. Các phương pháp phân tích khác
Ngoài các phương pháp được sử dụng nêu trên, để thực hiện chức năng của mình,
phân tích tài chính còn có thể sử dụng kết hợp với các phương pháp khác, như: phương
pháp thang điểm, phương pháp kinh nghiệm, phương pháp quy hoạch tuyến tính, phương
pháp sử dụng mô hình kinh tế lượng, phương pháp dựa vào ý kiến của các chuyên gia
Mỗi một phương pháp được sử dụng tùy thuộc vào mục đích phân tích và dữ liệu phân
tích.
1.3. Tổ chức phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.1. Ý nghĩa của tổ chức phân tích tài chính doanh nghiệp
Tổ chức phân tích tài chính doanh nghiệp là việc thiết lập trình tự các bước công
việc cần tiến hành trong quá trình phân tích tài chính phù hợp với từng loại phân tích, phù
hợp với từng doanh nghiệp.
9
SUẤT
SINH
LỢI
CỦA
VỐN
CHỦ
SỞ
HỮU
(ROE)
Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu
=
Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản
Vốn chủ sở hữu
Tổng tài sản
Doanh thu thuần
Tổng tài sản
Vốn chủ sở hữu
Doanh thu thuần
x
Doanh thu thuần
Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản
Doanh thu thuần
= x
x
Để phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp thực sự phát huy tác dụng trong quá
trình ra quyết định, phân tích tài chính phải được tổ chức khoa học, hợp lý, phù hợp với
đặc điểm kinh doanh, cơ chế hoạt động, cơ chế quản lý kinh tế, tài chính của doanh nghiệp
và phù hợp với mục tiêu quan tâm của từng đối tượng.
Do mỗi đối tượng quan tâm với những mục đích khác nhau, mỗi doanh nghiệp có
đặc điểm và điều kiện khác nhau, nên tổ chức phân tích tài chính đối với mỗi đối tượng, ở
từng doanh nghiệp cũng có những nét riêng.
Tổ chức phân tích tài chính có thể nằm ở một bộ phận riêng biệt đặt dưới sự kiểm
soát trực tiếp của ban quản lý điều hành cấp cao và làm tham mưu cho ban quản lý điều
hành cấp cao. Khi đó quá trình phân tích được thực hiện đối với toàn bộ hoạt động tài
chính từ tổ chức, phân phối và sử dung vốn, từ chính sách huy động, chính sách đầu tư
đến chính sách phân phối lợi nhuận.
Tổ chức phân tích tài chính được thực hiện ở nhiều bộ phận độc lập căn cứ vào
chức năng quản lý nhằm cung cấp thông tin cho các bộ phận theo sự phân quyền, trách
nhiệm và ra quyết định đối với hoạt động tài chính trong phạm vi được giao.
1.3.2. Nội dung tổ chức phân tích tài chính doanh nghiệp
Để phân tích tài chính trong doanh nghiệp thực sự phát huy tác dụng trong quá
trình ra quyết định, phân tích tài chính phải được tổ chức khoa học, hợp lý, phù hợp đặc
điểm kinh doanh, cơ chế hoạt động, cơ chế quản lý kinh tế tài chính của doanh nghiệp và
phù hợp với mục tiêu quan tâm của từng đối tượng. Mỗi đối tượng quan tâm với những
mục đích khác nhau, nên việc phân tích đối với mỗi đối tượng cũng có những nét riêng,
khó xác định khuân mẫu trong việc tổ chức phân tích cho tất cả các đối tượng, tất cả các
doanh nghiệp. Song, nói chung, tổ chức phân tích tài chính thường được tiến hành qua các
giai đoạn sau:
a) Giai đoạn chuẩn bị phân tích là một khâu quan trọng, ảnh hưởng nhiều đến
chất lượng, thời hạn và tác dụng của phân tích hoạt động tài chính. Công tác chuẩn bị bao
gồm việc xây dựng chương trình (kế hoạch) phân tích và thu thập, xử lý tài liệu phân tích.
Kế hoạch phân tích phải xác định rõ nội dung phân tích (toàn bộ hoạt động tài
chính hay chỉ một số vấn đề cụ thể), phạm vi phân tích (toàn đơn vị hay một vài bộ phận),
thời gian tiến hành phân tích (kể cả thời gian chuẩn bị), phân công trách nhiệm cho các cá
nhân, bộ phận và xác định hình thức hội nghị phân tích (Ban giám đốc hay toàn thể người
lao động). Đặc biệt, trong kế hoạch phân tích phải xác định rõ loại hình phân tích được lựa
chọn. Tùy thuộc vào cách thức tiếp cận, có thể kể ra một số loại hình phân tích chủ yếu
sau:
Dựa vào phạm vi phân tích, phân tích tài chính được chia thành phân tích toàn bộ
(phân tích toàn diện) và phân tích bộ phận (phân tích chuyên đề). Phân tích toàn bộ là việc
phân tích toàn bộ hoạt động tài chính trên tất cả các khía cạnh nhằm làm rõ các mặt của
hoạt động tài chính trong mối quan hệ nhân quả giữa chúng cũng như dưới tác động của
các nguyên nhân, nhân tố bên ngoài. Phân tích bộ phận hay là phân tích chuyên đề là việc
tập trung vào một hay một vài khía cạnh cụ thể, trong phạm vi nào đó trong hoạt động tài
chính.
Dựa vào thời điểm tiến hành phân tích hoạt động tài chính, phân tích tài chính được
chia thành phân tích dự đoán, phân tích thực hiện và phân tích hiện hành. Phân tích dự
10
đoán (phân tích trước, phân tích dự báo) là việc phân tích hướng vào dự đoán các hiện
tượng có thể xảy ra, các mục tiêu có thể đạt được trong tương lai. Phân tích thực hiện
(phân tích đánh giá, phân tích quá khứ) là việc phân tích tình hình đã và đang diễn ra trong
quá trình tiến hành các hoạt động tài chính nhằm đánh giá thực hiện, kiểm tra thường
xuyên trên cơ sở đó điều chỉnh những sai lệch, phát hiện nguyên nhân giúp nhận thức
được tình hình thực hiện làm căn cứ đưa ra các quyết định. Phân tích hiện hành là việc
phân tích các nghiệp vụ hay kết quả thuộc hoạt động tài chính đang diễn ra nhằm xác
minh tính đúng đắn của các kế hoạch hay dự toán tài chính để có biện pháp điều chỉnh kịp
thời những bất hợp lý trong các dự toán, kế hoạch tài chính.
Dựa vào thời điểm lập báo cáo phân tích, phân tích tài chính được chia thành phân
tích thường xuyên và phân tích định kỳ. Phân tích thường xuyên được đặt ngay trong qúa
trình thực hiện, kết quả phân tích là tài liệu để điều chỉnh các hoạt động một cách thường
xuyên. Phân tích định kỳ được đặt ra sau mỗi kỳ hoạt động, thường được thực hiện sau
khi kết thúc hoạt động. Kết quả phân tích của từng kỳ là cơ sở để xây dựng mục tiêu và ra
quyết định cho kỳ sau.
Bên cạnh việc lập kế hoạch phân tích, cần phải tiến hành sưu tầm và kiểm tra tài
liệu, bảo đảm yêu cầu đủ, không thiếu, không thừa. Nếu thiếu, kết luận phân tích sẽ không
xác đáng, nếu thừa sẽ lãng phí thời gian, công sức và tiền của. Tuỳ theo yêu cầu, nội dung,
phạm vi và nhiệm vụ từng đợt phân tích cụ thể để tiến hành thu thập, lựa chọn, xử lý tài
liệu. Tài liệu phục vụ cho việc phân tích bao gồm toàn bộ hệ thống báo cáo tài chính liên
quan, kể cả các báo cáo kế hoạch, dự toán, định mức, các biên bản kiểm tra, xử lý có liên
quan Các tài liệu trên cần được kiểm tra tính chính xác, tính hợp pháp, kiểm tra các điều
kiện có thể so sánh được rồi mới sử dụng để tiến hành phân tích.
b) Giai đoạn thực hiện phân tích được thực hiện theo trình tự sau:
- Đánh giá chung (khái quát) tình hình:
Dựa vào chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu đã xác định theo từng nội dung
phân tích, các nhà phân tích sử dụng phương pháp so sánh để đánh giá chung tình hình. Có
thể so sánh trên tổng thể kết hợp với việc so sánh trên từng bộ phận cấu thành của chỉ tiêu
ở kỳ phân tích với kỳ gốc. Từ đó, xác định chính xác kết quả, xu hướng phát triển và mối
quan hệ biện chứng giữa các hoạt động kinh doanh với nhau.
- Xác định nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến đối
tượng phân tích:
Hoạt động tài chính chịu ảnh hưởng của rất nhiều nguyên nhân, có những nguyên
nhân mà nhà phân tích có thể xác định được mức độ ảnh hưởng và có những nguyên nhân
không thể xác định được mức độ ảnh hưởng của chúng đến sự biến động của đối tượng
nghiên cứu. Những nguyên nhân mà các nhà phân tích có thể tính toán được, lượng hóa
được mức độ ảnh hưởng đến đối tượng nghiên cứu gọi là nhân tố. Vì thế, sau khi đã xác
định lượng nhân tố cần thiết ảnh hưởng đến đối tượng nghiên cứu, các nhà phân tích sẽ
vận dụng phương pháp thích hợp (loại trừ, liên hệ cân đối, so sánh, toán kinh tế ) để xác
định mức độ ảnh hưởng và phân tích thực chất ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự thay
đổi của đối tượng nghiên cứu.
- Tổng hợp kết quả phân tích, rút ra nhận xét, kết luận về chất lượng hoạt động tài
chính của doanh nghiệp:
11
Trên cơ sở kết quả tính toán, xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động
của đối tượng nghiên cứu, các nhà phân tích cần tiến hành liên hệ, tổng hợp mức độ biến
động của các nhân tố đến đối tượng nghiên cứu nhằm khắc phục tính rời rạc, tản mạn. Từ
đó, rút ra các nhận xét, chỉ rõ những tồn tại, nguyên nhân dẫn đến thiếu sót, sai lầm; đồng
thời, vạch ra các tiềm năng chưa được khai thác, sử dụng để có các quyết định phù hợp
với mục tiêu đặt ra.
c) Giai đoạn kết thúc phân tích:
Kết thúc phân tích là giai đoạn cuối cùng của hoạt động phân tích. Trong giai đoạn
này, các nhà phân tích cần tiến hành viết báo cáo phân tích, báo cáo kết quả phân tích
trước những người quan tâm (Ban Giám đốc, các nhà đầu tư, cổ đông ) và hoàn chỉnh hồ
sơ phân tích.
1.4. Cơ sở dữ liệu phục vụ phân tích tài chính doanh nghiệp
1.4.1. Hệ thống báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn chủ sở
hữu và công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, tình hình lưu chuyển
tiền tệ và khả năng sinh lời trong kỳ của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính cung cấp các
thông tin kinh tế - tài chính chủ yếu cho người sử dụng thông tin kế toán trong việc đánh
giá, phân tích và dự đoán tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Báo cáo tài chính được sử dụng như nguồn dữ liệu chính khi phân tích tài chính
doanh nghiệp.
Khác với hệ thống báo cáo kế toán quản trị - là những báo cáo liên quan đến việc
cung cấp thông tin cho các nhà quản trị trong nội bộ doanh nghiệp - Báo cáo tài chính là
những báo cáo dùng để công khai, liên quan chủ yếu đến các thành viên bên ngoài doanh
nghiệp. Người sử dụng thông tin của báo cáo tài chính quan tâm đến việc xem xét, đánh
giá hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp để có quyết định thích
ứng (đầu tư, cho vay, rút vốn, liên doanh, xác định thuế và các khoản nghĩa vụ khác).
Thông thường, người sử dụng thông tin trên Báo cáo tài chính là những người làm công
tác phân tích tài chính ở các cơ quan Nhà nước (cơ quan chủ quản, ngân hàng, thống kê,
tài chính ), nhà đầu tư, nhân viên thuế, các cổ đông, các trái chủ, chủ nợ
Báo cáo tài chính doanh nghiệp có ý nghĩa to lớn không những đối với các cơ quan,
đơn vị và cá nhân bên ngoài doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa trong việc chỉ đạo, điều hành
hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính rất hữu ích đối với
việc quản trị doanh nghiệp và đồng thời là nguồn thông tin tài chính chủ yếu đối với
những người ngoài doanh nghiệp. Báo cáo tài chính không những cho biết tình hình tài
chính của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo mà còn cho thấy kết quả hoạt động mà
doanh nghiệp đạt được trong hoàn cảnh đó. Bằng việc xem xét, phân tích báo cáo tài
chính, người sử dụng thông tin có thể đánh giá chính xác sức mạnh tài chính, khả năng
sinh lãi và triển vọng của doanh nghiệp. Do đó, Báo cáo tài chính của doanh nghiệp là mối
quan tâm của nhiều nhóm người khác nhau như Ban giám đốc, Hội đồng quản trị, các nhà
đầu tư, các cổ đông, các chủ nợ, các khách hàng chính, những người cho vay, các nhân
viên ngân hàng, các nhà quản lý, các nhà bảo hiểm, các đại lý kể cả các cơ quan Chính
phủ và bản thân người lao động. Mỗi nhóm người có những nhu cầu thông tin khác nhau
và do vậy, mỗi nhóm có xu hướng tập trung vào những khía cạnh riêng trong bức tranh tài
chính của một doanh nghiệp. Mặc dầu mục đích của họ khác nhau nhưng thường liên quan
12
với nhau, do vậy, họ thường sử dụng các công cụ và kỹ thuật cơ bản giống nhau để phân
tích, xem xét Báo cáo tài chính. Có thể khái quát vai trò của Báo cáo tài chính trên các
điểm sau:
- Báo cáo tài chính cung cấp chỉ tiêu kinh tế - tài chính cần thiết giúp cho việc kiểm
tra một cách toàn diện và có hệ thống tình hình sản xuất, kinh doanh, tình hình thực hiện
các chỉ tiêu kinh tế - tài chính chủ yếu của doanh nghiệp, tình hình chấp hành các chế độ
kinh tế - tài chính của doanh nghiệp.
- Báo cáo tài chính cung cấp số liệu cần thiết để tiến hành phân tích hoạt động kinh
tế - tài chính của doanh nghiệp, để nhận biết tình hình kinh doanh, tình hình kinh tế - tài
chính nhằm đánh giá quá trình hoạt động, kết quả kinh doanh cũng như xu hướng vận
động của doanh nghiệp để từ đó đưa ra các kết luận đúng đắn và có hiệu quả. Đồng thời,
Báo cáo tài chính cung cấp những thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu về thực trạng tài
chính của doanh nghiệp trong kỳ hoạt động đã qua, giúp cho việc kiểm tra, giám sát tình
hình sử dụng vốn và khả năng huy động nguồn vốn vào sản xuất, kinh doanh của doanh
nghiệp.
- Báo cáo tài chính cung cấp tài liệu tham khảo phục vụ cho việc lập kế hoạch sản
xuất, kinh doanh, kế hoạch đầu tư mở rộng hay thu hẹp phạm vi
- Báo cáo tài chính cung cấp thông tin cho các chủ doanh nghiệp, Hội đồng Quản
trị, Ban giám đốc về tiềm lực của doanh nghiệp, tình hình công nợ, tình hình thu chi tài
chính, khả năng tài chính, khả năng thanh toán, kết quả kinh doanh để có quyết định về
những công việc cần phải tiến hành, phương pháp tiến hành và kết quả có thể đạt được
- Báo cáo tài chính cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư, các chủ nợ, ngân hàng,
đại lý và các đối tác kinh doanh về thực trạng tài chính, thực trạng sản xuất, kinh doanh,
triển vọng thu nhập, khả năng thanh toán, nhu cầu về vốn của doanh nghiệp để quyết
định hướng đầu tư, quy mô đầu tư, quyết định liên doanh, cho vay hay thu hồi vốn
- Báo cáo tài chính cung cấp thông tin cho các cơ quan chức năng, cơ quan quản lý
Nhà nước để kiểm soát tình hình kinh doanh của doanh nghiệp có đúng chính sách chế độ,
đúng luật pháp không, để thu thuế và ra những quyết định cho những vấn đề xã hội
- Báo cáo tài chính cung cấp các chỉ tiêu, các số liệu đáng tin cậy để tính ra các chỉ
tiêu kinh tế khác nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả của quá trình sản xuất,
kinh doanh của doanh nghiệp.
- Báo cáo tài chính là căn cứ quan trọng trong việc phân tích, nghiên cứu, phát hiện
những khả năng tiềm tàng và là căn cứ quan trọng đề ra các quyết định về quản lý, điều
hành hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc đầu tư vào doanh nghiệp của chủ sở hữu, các
nhà đầu tư, các chủ nợ hiện tại và tương lai của doanh nghiệp.
- Báo cáo tài chính còn là căn cứ quan trọng để xây dựng các kế hoạch, kinh tế - kỹ
thuật, tài chính của doanh nghiệp, là những căn cứ khoa học để đề ra hệ thống các biện
pháp xác thực nhằm tăng cường quản trị doanh nghiệp, không ngừng nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Theo Chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành (Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC
ngày 20/03/2006 của Bộ Tài chính), hệ thống Báo cáo tài chính áp dụng cho tất cả các
doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế trong cả nước ở Việt Nam bao
gồm 4 biểu mẫu báo cáo sau:
13
- Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01 - DN);
- Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu số B02 - DN);
- Báo cáo Lưu chuyển tiền tệ (Mẫu số B03 - DN);
- Bản thuyết minh báo cáo tài chính (Mẫu số B09 - DN).
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, gồm công ty trách nhiệm hữu hạn (trừ công ty
trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên được chuyển từ doanh nghiệp nhà nước), công ty cổ
phần (trừ công ty chứng khoán cổ phần và công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng
khoán), công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã (trừ hợp tác xã nông nghiệp
và hợp tác xã tín dụng nhân dân) áp dụng hệ thống Báo cáo tài chính ban hành theo Quyết
định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Về cơ bản, hệ
thống báo cáo này cũng tương tự như hệ thống báo cáo theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC
ngày 20/03/2006; tuy nhiên, số lượng báo cáo và nội dung cũng có những khác biệt nhất
định. Về số lượng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói trên phải lập các báo cáo tài chính
sau:
1. Bảng Cân đối kế toán - Mẫu số B01-DNN
2. Bảng Cân đối tài khoản - Mẫu số F01-DNN
3. Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh - Mẫu số B02-DNN
4. Báo cáo Lưu chuyển tiền tệ - Mẫu số B03-DNN
5. Bản Thuyết minh báo cáo tài chính - Mẫu số B09-DNN
Đối với các hợp tác xã, báo cáo tài chính bao gồm:
1. Bảng Cân đối Tài khoản - Mẫu số B01-DNN/HTX
2. Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh - Mẫu số B02-DNN
3. Bản Thuyết minh báo cáo tài chính - Mẫu số B09-DNN/HTX
Kết cấu và nội dung phản ánh trên hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp đã
được trình bày trong Chuyên đề 4 “Kế toán tài chính, kế toán quản trị”.
1.4.2. Cơ sở dữ liệu khác
Sự tồn tại, phát triển cũng như quá trình suy thoái của doanh nghiệp phụ thuộc vào
nhiều yếu tố: Có yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài; Có yếu tố chủ quan và yếu tố
khách quan. Điều đó tuỳ thuộc vào tiêu thức phân loại các yếu tố ảnh hưởng.
- Các yếu tố bên trong:
Các yếu tố bên trong là những yếu tố thuộc về tổ chức doanh nghiệp; trình độ quản
lý; ngành nghề, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh; quy trình công
nghệ; năng lực của lao động
- Các yếu tố bên ngoài:
Các yếu tố bên ngoài là những yếu tố mang tính khách quan như: chế độ chính trị
xã hội; tăng trưởng kinh tế của nền kinh tế; tiến bộ khoa học kỹ thuật; chính sách tài chính
tiền tệ; chính sách thuế
Phân tích tài chính nhằm phục vụ cho những dự đoán tài chính, dự đoán kết quả
tương lai của doanh nghiệp, trên cơ sở đó mà đưa ra được những quyết định phù hợp. Như
vậy, không chỉ giới hạn ở việc nghiên cứu những báo biểu tài chính mà phải tập hợp đầy
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét