Chủ Nhật, 2 tháng 3, 2014

LỊCH SỬ THỪA THIÊN HUẾ



Thành viên:
Công Anh Anh Khoa
Tiến Dũng Thiên Phước
Đức Nguyên Quốc Cường
Thảo Chi Hoàng Lan
Thành Nhân Phú Hào



Thừa Thiên Huế là một vùng non sông kỳ
thú nằm ở vùng duyên hải Bắc miền Trung, nơi có
thành phố Huế - một trong những đô thị lớn nổi
tiếng của Việt Nam. Tự hào là vùng đất văn hiến
có bề dày lịch sử - văn hoá lâu đời, đặc sắc và
truyền thống yêu nước đấu tranh cách mạng vẻ
vang. Thừa Thiên Huế với vị trí chiến lược đặc
biệt đã từng là "phên dậu thứ tư về phương Nam"
của Đại Việt, nơi "đô hội lớn của một phương".

LỊCH SỬ:

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH :
Tháng 3 năm Tân Sửu (1301) Thượng Hoàng Trần
Nhân Tông làm cuộc viễn du sang kinh đô Chiêm Thành. Để
tăng thêm quan hệ hoà hiếu giữa hai nước Việt-Chiêm
Thành, Thượng hoàng hứa gả con gái cho vua Chiêm. Bởi
vậy, năm Bính Ngọ (1306), sau khi nhận lễ vật gồm hương
quý, của lạ và vàng bạc cầu hôn, vua Trần Anh Tông gả công
chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân. Chế Mân đem
đất châu Ô, châu Lý làm vật dẫn cưới và phong Huyền Trân
làm Hoàng hậu.

KINH ĐÔ HUẾ:
.
Từ thời các Chúa Nguyễn, Huế đã từng được
chọn làm thủ phủ xứ đàng trong năm 1635-1687
Nguyễn Phúc Lan, Nguyễn Phúc Tần dựng phủ ở
Kim Long ; đến thời Nguyễn Phúc Thái, Nguyễn
Phúc Khoát đã dời phủ về Phú Xuân (Huế) trong
những năm 1687-1712; 1739-1774. Đến thời Tây
Sơn, Huế vẫn được vua Quang Trung chọn làm
thành kinh đô của cả nước Việt Nam thống nhất.
Năm 1802, khi Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi hoàng
đế, mở đầu cho vương triều Nguyễn kéo dài suốt
143 năm, một lần nữa lại chọn Huế làm nơi đóng
đô.
Ngay sau khi lên ngôi, Gia Long đã tiến hành
khảo sát chọn vị trí xây thành mới, cuối cùng ông
đã chọn vùng đất rộng bên bờ bắc sông Hương
gồm phần đất của các làng Phú Xuân, Vạn Xuân,
Diễn Phái, An Vân, An Hoà, An Mỹ, An Bảo, Thế
Lại cùng một phần của hai con sông Bạch Yến và
Kim Long làm nơi xây thành. Về mặt phong thuỷ,
tiền án của kinh thành là núi Ngự Bình cao hơn
100 mét, đỉnh bằng phẳng, dáng đẹp, cân phân
nằm giữa vùng đồng bằng như một bức bình
phong thiên nhiên che chắn trước kinh thành…
Hai bên là Cồn Hến và Cồn Dã Viên làm tả
Thanh Long, hữu Bạch Hổ (rồng xanh bên trái,
hổ trắng bên phải) làm thế rồng chầu hổ phục tỏ
ý tôn trọng vương quyền. Minh đường thủy tụ là
khúc sông Hương rộng, nằm dài giữa hai cồn
cong như một cánh cung mang lại sinh khí cho
đô thành
Kinh thành Huế được đích thân Gia Long
chọn vị trí và cắm mốc, tiến hành khảo sát từ
năm 1803, khởi công xây dựng từ 1805 và hoàn
thành vào năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng.
Trong lịch sử Việt Nam thời cận đại, công trình
xây dựng Kinh Thành Huế có lẽ là công trình đồ
sộ, quy mô nhất với hàng vạn lượt người tham
gia thi công, hàng triệu mét khối đất đá, với một
khối lượng công việc khổng lồ đào hào, lấp sông,
di dân, dời mộ, đắp thành kéo dài trong suốt 30
năm dưới hai triều vua.
Kinh thành Huế

Huế đồng thời còn là một trung tâm
quan trọng của Ðạo Phật. Ở Huế và
những vùng lân cận vẫn còn tồn tại
hàng chục chùa đã được xây dựng cách
đây trên 300 năm và hàng trăm đền,
chùa được xây dựng đầu thế kỷ 20.
Ngoài ra, Huế còn được xem như là nơi
bắt nguồn của nhạc cung đình, là nơi có
nhiều món ăn truyền thống nổi tiếng và
nghề thủ công tinh xảo.
Điện Thái Hoà
Đại nội xưa
Một đoạn thành Huế và Kỳ Đài
Chợ Đông Ba xưa

KIẾN TRÚC:
Kinh Thành Huế được quy hoạch bên bờ Bắc
sông Hương, xoay mặt về hướng Nam, với diện
tích mặt bằng 520 ha. Kinh Thành và mọi công
trình kiến trúc của Hoàng Thành, Tử Cấm Thành
đều xoay về hướng Nam, hướng mà trong Kinh
Dịch đã ghi “Thánh nhân nam diện nhi thính
thiên hạ” (ý nói vua quay mặt về
hướng Nam để cai trị thiên hạ).
Vòng thành có chu vi gần 10km, cao 6,6m, dày
21m được xây khúc khuỷu với những pháo đài
được bố trí cách đều nhau, kèm theo các pháo
nhãn, đại bác, kho đạn; thành ban đầu chỉ đắp
bằng đất, mãi đến cuối đời Gia Long mới bắt đầu
xây gạch. Bên ngoài vòng thành có một hệ thống
hào bao bọc ngay bên ngoài. Riêng hệ thống sông
đào (Hộ Thành Hà) vừa mang chức năng bảo vệ
vừa có chức năng giao thông đường thủy có chiều
dài hơn 7 km (đoạn ở phía Tây là sông Kẻ Vạn,
đoạn phía Bắc là sông An Hòa, đoạn phía Đông là
sông Đông Ba, riêng đoạn phía Nam dựa vào sông
Hương).
Là vòng thành thứ hai bên trong kinh
thành Huế, nơi ở của vua và Hoàng gia,
cũng là nơi làm việc của triều đình. Ngoài
ra Hoàng thành Huế còn là nơi thờ tự tổ
tiên và các vị vua nhà Nguyễn…
Hoàng Thành được xây dựng năm 1804,
nhưng để hoàn chỉnh toàn bộ hệ thống
cung điện với khoảng hơn 100 công trình
thì phải đến thời vua Minh Mạng vào năm
1833, mọi việc mới được hoàn tất. Hoàng
Thành có 4 cửa được bố trí ở 4 mặt, trong
đó cửa chính (ở phía Nam) là Ngọ Môn…
Bên trong Hoàng thành có Điện Thái
Hoà, là nơi thiết triều; khu vực các miếu
thờ; và Tử Cấm thành - nơi ăn ở sinh hoạt
của vua và hoàng gia. Người ta thường gọi
chung Hoàng Thành và Tử Cấm Thành là
Đại Nội.
Hoàng thành
Tử Cấm thành
Là vòng thành trong cùng, nằm
trong Hoàng thành. Tử Cấm thành
nguyên gọi là Cung Thành, được
khởi công xây dựng từ năm Gia Long
thứ 2 (1803), năm Minh Mạng thứ 2
(1821) đổi tên thành Tử Cấm Thành.
Thành có hình chữ nhật, cạnh nam và bắc dài
341m, cạnh đông và tây dài 308m, chu vi 1300m. Ở
mặt trước, phía nam là cửa chính là Đại Cung Môn.
Mặt bắc có 2 cửa Tường Loan và Nghi Phụng ,thời
Bảo Đại, sau khi xây lầu Ngự Tiền Văn Phòng mở
thêm cửa Văn Phòng. Mặt đông có hai cửa Hưng
Khánh và Đông An, về sau lấp cửa Đông An, mở
thêm cửa Duyệt Thị ở phía đông Duyệt Thị Đường.
Mặt tây có 2 cửa: Gia Tường và Tây An. Bên trong
Tử Cấm thành bao gồm hàng chục công trình kiến
trúc với qui mô lớn nhỏ khác nhau, được phân chia
làm nhiều khu vực.


THÁI BÌNH LÂU
ĐIỆN THÁI HOÀ
CỬA HIỂN NHÂN

SÚNG THẦN CÔNG
.

758f151600
Vị trí: Cửu vị thần công được đặt gần cửa Thể Nhơn và cửa
Quảng Ðức bên trong kinh thành Huế, Tp. Huế, tỉnh Thừa
Thiên - Huế.
Đặc điểm: Cửu vị thần công là chín khẩu súng thờ, tượng
trưng cho những vị thần linh bảo vệ kinh thành.
Ngày 31/01/1803, Gia Long hạ lệnh thu hết tất cả đồ dùng
bằng đồng của triều đại Tây Sơn đúc thành 9 khẩu súng. Ðến
cuối tháng Giêng năm 1804 thì công việc đúc hoàn thành.
Người ta lấy tên bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Ðông và ngũ
hành: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ để đặt tên cho 9 khẩu súng.
Tất cả chín khẩu đều được phong "Thần Oai vô địch thượng
tướng quân". Mỗi khẩu dài 5,1m, nặng trên 10 tấn.


Nhã nhạc cung đình Huế
Nhã nhạc cung đình Huế
là thể loại nhạc của cung đình thời phong
kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua
đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm
khác) trong năm của các triều đại nhà
Nguyễn của Việt Nam.
Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận
là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003.
Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ
truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia"
."Nhã nhạc đã được phát triển từ thế kỷ 13 ở Việt Nam đến
thời nhà nhà Nguyễn thì Nhã nhạc cung đình Huế đạt độ
chín muồi và hoàn chỉnh nhất". Cùng với không gian văn
hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, đây là di sản phi vật thể của
Việt Nam đã được UNESCO chính thức công nhận. Nhã
nhạc Cung Đình Huế là một sự kế thừa,kể từ khi những dàn
nhạc - trong đó có mặt nhiều nhạc khí cung đình - xuất hiện
dưới dạng tác phẩm chạm nổi trên các bệ đá kê cột chùa thời
Lý, thế kỉ XI-XII, đến lúc ông vua cuối cùng triều Nguyễn
thoái vị vào giữa tk. XX.


CỐ ĐÔ HUẾ
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công. Ngày
25 tháng 8, Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh buộc Bảo
Đại phải thoái vị. Bảo Đại thoái vị trong một buổi
lễ long trọng ở Ngọ Môn, Huế vào chiều 30
tháng 8, trao quốc ấn Hoàng đế Chi Bửu và thanh kiếm
bạc nạm ngọc cho đại diện của chính phủ lâm thời của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là ông Trần Huy
Liệu. Triều Nguyễn và thời kỳ phong kiến của Việt Nam
kết thúc từ đó, Huế trở thành cố đô của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa.

Trao trả ấn kiếm

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét