Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2014

So sánh hình ảnh soi ổ bụng giữa lao màng bụng và ung thư màng bụng

Phúc mạc có khả năng hấp thụ nhanh nhờ có nhiều mạch máu, mạch bạch
huyết và diện tích bề mặt rộng nên khi bơm dịch vào phúc mạc sẽ đợc hấp thụ
ngay và nhanh chóng khuyếch tán vào trong ổ bụng. Chức năng phụ của phúc
mạc là dự trữ mỡ, rõ nhất ở mạc nối lớn nên ngời ta còn gọi là mỡ chài.
Mạc nối lớn thể hiện rõ tính thấm và tính dính, mạc nối lớn đóng vai trò nh
hàng rào chống đỡ, bảo vệ và tiêu hủy vi trùng đồng thời cô lập các tạng khi bị
viêm. Mạc nối lớn còn đóng vai trò tóm bắt hay chài các tế bào ung th [4].
1.2. Phơng pháp soi ổ bụng
1.2.1. lịch sử của phơng pháp soi ổ bụng
Soi ổ bụng là một phơng pháp đã đợc đề xuất và áp dụng từ ở Châu Âu từ đầu
thế kỷ 20. Phơng pháp này đợc áp dung phổ biến trong những năm gần đây.
Năm 1901, Ott một nhà phụ khoa tại Nga, ngời đầu tiên đề xuất cách nhìn
trong ổ bụng bằng phơng pháp nội soi. Cũng trong năm đó, 23/9/1901, George
Kelling, một bác sĩ ngoại khoa ngời Đức, đã nổi tiếng với một kỹ thuật kiểm tra
ổ bụng ở chó bằng một dụng cụ quang học (ống soi bàng quang). Mời năm sau,
năm 1911, Jacobeus ngời Thuỵ Điển cũng mô tả lại phơng pháp soi ổ bụng.
Cũng năm đó, tại Mỹ, bác sĩ Bernheim công bố hình dạng của một dụng cụ để
nghiên cứu bệnh ở ổ bụng trên cơ sở ống soi bàng quang đã cải tiến ( ống soi
trực tràng). Năm 1920, Orndoff, một thầy thuốc nội khoa ở Chicago, báo cáo về
soi màng bụng ở 42 trờng hợp với dụng cụ soi ổ bụng cải tiến. Năm 1922, tại
Munich, trong một bài báo, Rkorbsch đã mở rộng chỉ định của soi ổ bụng cho
bất cứ bệnh lý nào của ổ bụng mà không thể chẩn đoán đợc bằng cách khác.Năm
1927, ông viết và xuất bản cuốn sách giáo khoa kèm Atlas đầu tiên về soi ổ bụng
và soi lồng ngực. Một trong những ngời nổi tiếng nhất về soi ổ bụng cùng thời
gian này là nhà nghiên cứu xuất sắc ngời Đức Heinz Kalk. Ông là ngời đầu tiên
cải tiến và sử dụng hệ thống ống soi nghiêng (135) mà sau này đợc Kremer đa
ra năm 1927. Từ đó trở đi, phơng pháp soi ổ bụng mỗi ngày đợc phát triển thêm
về kỹ thuật và dụng cụ. Nhiều thủ thuật khác đợc phối hợp với soi ổ bụng (sinh
thiết, chọc dò, chụp ảnh đờng mật) nhờ việc sản xuất các loại kim và cải tiến
các máy soi.
5
1.2.2.Gía trị của soi ổ bụng
Phơng pháp nội soi ổ bụng đã mở rộng tầm quan sát của ngời thầy thuốc lâm
sàng. Đây là sự đóng góp lớn không những trong chẩn đoán bệnh mà cả trong
điều trị bệnh. Vì vậy SOB có những giá trị sau:
Cho phép trực tiếp nhìn thấy tổn thơng trên màn hình với hình ảnh có độ
sắc nét cao.
Cho phép trực tiếp sử dụng dụng cụ đụng chạm vào tổn thơng, mang lại
một phần nhận cảm về xúc giác, góp thêm thông tin cho việc đánh giá tổn
thơng mà các phơng pháp thăm dò khác không có.
Phát hiện tổn thơng nhỏ có kích thớc <10 mm trên bề mặt tạng hay trên
phúc mạc,các dây chằng, chỗ dính mà các phơng pháp thăm dò bằng hình
ảnh khác không phát hiện đợc.
Có thể hút lấy dịch trong ổ bụng để đánh giá định tính, định lợng và làm
các xét nghiệm cần thiết.
Có thể sinh thiết chính xác tổn thơng nhờ quan sát trực tiếp nên tránh đợc
các tai biến của sinh thiết mù.
Cho phép kết hợp các phơng pháp thăm dò khác nh đa đầu dò siêu âm,
Doppler vào để thăm dò các tổn thơng sâu và mạch máu, chọc kim bơm
thuốc cản quang dới sự hớng dẫn của soi ổ bụng để chụp Xquang.
Giảm bớt các tai biến và biến chứng gặp phải nếu mở bụng thăm dò và rút
ngắn ngày nằm viện so với mổ thăm dò.
1.3. Bệnh lý lao màng bụng
Bệnh lao các cơ quan tiêu hóa thờng là thứ phát sau lao phổi, lao tiên phát ít
gặp hơn. Theo một số tác giả trên thế giới, lao tiên phát gặp ở 1,7 28% các tr-
ờng hợp. ở nớc ta thờng gặp bệnh lao phúc mạc và lao ruột, ít gặp hơn lao thực
quản, hiếm gặp hơn lao gan, lao dạ dày [21].
1.3.1. Bệnh căn và bệnh sinh LMB
Lao màng bụng do trực khuẩn lao gây ra trong đó trực khuẩn lao ngời là chủ
yếu, trực khuẩn lao bò ít gặp, trực khuẩn lao không điển hình lại càng ít gặp [].
6
Có 3 đờng trực khuẩn lao có thể đến màng bụng để gây bệnh là đờng máu, đ-
ờng bạch huyết, đờng tiếp cận [7].
+ Đờng máu: đây là đờng lan truyền trực khuẩn phổ biến nhất đợc Marfan nêu
ra từ năm 1984. Đờng lan truyền này giải thích đợc rất nhiều vị trí khác của lao
trong cơ thể, không chỉ đối với lao màng bụng.
+ Đờng bạch mạch: từ tổn thơng lao ở ruột, ở hạch mạc treo, vi khuẩn lao theo
hệ thống bạch mạch lan tràn tới màng bụng. Cũng bằng đờng này, vi khuẩn lao
có thể từ tổn thơng lao ở màng phổi đến màng bụng vì hệ thống bạch mạch của
màng phổi và màng bụng lu thông với nhau qua cơ hoành.
+ Đờng tiếp cận: từ một ổ lao vùng tiếp cận, đặc biệt là ruột hoặc bộ phận sinh
dục, trực khuẩn lao có thể xâm nhập vào màng bụng.
1.3.3. Giải phẫu bệnh
1.3.3.1. Viêm lao
Đại thể: viêm lao có 2 dạng tổn thơng cơ bản [8]
+ Thể giêng lẻ: tổn thơng thể cục, ranh giới rõ rệt.
Hạt lao: cục tròn rất nhỏ bằng đầu đinh ghim, không có màu sắc hoặc
trung tâm có một đốm vàng.
Củ kê (củ lao): to hơn hạt lao, bờ không đều.
Củ sống: bờ khúc khuỷu, trung tâm hoại tử.
Củ túi hóa: củ lao tiến triển đã lâu.
+ Thê xâm nhập: tổn thơng khuếch tán, ranh giới không rõ rệt
Dạng nhầy: màu trắng đục
Dạng xám: hiếm gặp, xâm nhập đồng đều
Dạng vàng sống: hậu quả của sự bã đậu hóa của các dạng xâm nhập
trên, dạng này có thể tiến triển thành nhuyễn hóa rồi thành mủ lao.
Vi thể: trong viêm lao cũng có thể thấy các phản ứng tơng tự nh trong viêm
nói chung: phản ứng rỉ viêm, phản ứng nang hay phản ứng mô, phản ứng sửa
chữa hay hủy hoại.
7
Thành phần của một nang lao điển hình bao gồm (theo thứ tự từ trung tâm
ra ngoại vi): hoại tử bã đậu, tế bào khổng lồ Langhans, tế bào bán liên, lymphô
bào, tế bào xơ.
1.3.3.2. Các thể lao màng bụng
Lao màng bụng có nhiều [7]
+ Thể kê: màng bụng có tổn thơng lao, các hạt tách rời nhau hoặc tập trung
thành từng đám nhỏ, xung quanh các hạt có phản ứng viêm, màng bụng nơi đó
dầy hơn. Tổn thơng kê có thể có ở khắp màng bụng hoặc khu trú . Trong thể kê
thờng bao giờ cũng có một ít dịch trong màng bụng
+ Thể cổ trớng: chủ yếu là các tổn thơng lao xuất tiết của màng bụng (có thể
phổi hợp với các thể khác) ổ bụng có nhiều dịch.
+ Thể loét bã đậu: trong thể này có rất nhiều tổn thơng dạng củ kích th-
ớc khác nhau , các củ đứng riêng rẽ hoặc tập hợp lại, dính liền nhau thành củ
lớn, đám lởn rải rác khắp màng bụng hoặc có nhiều ở một vài vị trí. Các tạng
trong ổ bụng thờng cũng có tổn thơng lao.
+ Thể xơ dính: trong thể này tổ chức xơ phát triển từ các sợi tơ huyết rỉ ra từ
màng bụng. Các hạt các củ và các màng trong ổ bụng cũng bị viêm lao gây
dính, vôi hóa từng phần ở màng bụng tạo nên hình ảnh xơ dính là chủ yếu trên
màng bụng tổn thơng.
+ Thể khu trú: tổn thơng lao các dạng không lan tỏa mà khu trú ở một vùng
cạnh một tạng nào đó trong ổ bụng, rất khó phân định do nguyên nhân nào đó.
Xét nghiệm mô bệnh học hoặc vi khuẩn mới xác định đợc nguyên nhân là do
lao.
Các tổn thơng này chỉ có một dạng, một thể hay nhiều thể , nhiều dạng phối
hợp với nhau, mức độ nhiều ít khác nhau.
1.3.4. Triệu trứng lâm sàng của lao màng bụng
Diện mạo lâm sàng của lao màng bụng rất đa dạng tùy theo cờng độ nhiễm
khuẩn, cơ địa và sự diễn biến của bệnh [7].
1.3.2.1. Lao màng bụng thể cấp tính.
8
Bệnh khởi phát đột ngột và dữ dội có khi là bệnh của viêm màng bụng cấp tính
với sốt cao, đau khắp bụng, nôn, phản ứng thành bụng, thậm chí co cứng thành
bụng, có thể bệnh cảnh của tắc ruột với rốt cao, nôn, trớng bụng, bí trung đại
tiện.
Bệnh có khi biểu hiện âm thầm, chỉ chuẩn đoán đợc khi mổ tử thì thấy có
nhiều hạt lao kê trên màng bụng.
1.3.2.2. Thể bán cấp
Thể này thờng có lao màng bụng phối hợp với lao thanh mạc khác nhất là với
màng phổi (gọi là lao màng bụng màng phổi Fernet-Boulland).
Bệnh khởi phát cánốt, ỉa chảy, táo bón, đau bụng thành cơn, trớng bụng. Triệu
chứng màng phổi nh tức ngực, khó thở, ho khan biểu hiện kín đáo thờng xuất
hiện sau triệu chứng trên.
Các triệu chứng lâm sàng xuất hiện đầy đủ sau vài ngày tới vài tuần: sốt 38
0
C -
39
0
C thờng về chiều tối, đau bụng giảm, cổ trớng không nhiều, tràn dịch màng
phổi một hoặc hai bên. Các thanh mạc khác trong cơ chế nh màng não, màng
tim, màng hoạt dịch đều có thể bị nhiễm lao (gọi là lao đa mang Huchard).
1.3.2.3. Các thể mạn tính
Các thể mạn tính là những thể thờng gặp nhất. ở đây xảy ra ba quá trình của
lao (rỉ dịch, bã đậu hóa và xơ hóa) phối hợp với nhau theo những tỷ lệ khác nhau
và tùy theo quá trình nào chiếm u thế sẽ có diện mạo lâm sàng của một thể.
* Lao màng bụng thể cổ trớng: lao màng bụng thể cổ trớng hay gặp nhất
khoảng 50% các trờng hợp.
Triệu chứng toàn thân và cơ năng: bệnh khởi phát âm thầm, bệnh nhân bắt
đầu có triệu chứng từ vài tháng trớc khi có chẩn đoán xác định, biểu hiện tình
trạng nhiễm độc lao. Các triệu chứng thờng gặp là sốt nhẹ về chiều và đêm, mệt
mỏi, sút cân, đau bụng, kém ăn, buồn nôn, táo bón, đôi khi có ỉa chảy. Bụng to
dần lên là dấu hiệu khiến bệnh nhân đi khám bệnh. ở phụ nữ, triệu chứng thờng
gặp nhất là rỗi loạn kinh nguyệt.
Triệu chứng thực thể: sau một vài tuần với các triệu chứng trên, bệnh nhân
xuất hiện cổ trớng, bụng căng vừa, rốn lồi, cổ trớng tự do, gõ đục vùng thấp,
9
vùng đục thay đổi theo t thế bệnh nhân, khi nằm ngửa vùng đục có đờng cong
phía lõm hớng lên trên, gan lách không to. Không có tuần hoàn bàng hệ.
Ngoài ra, thăm khám phát hiện tổn thơng lao phối hợp nơi khác nhau màng
phổi, màng tim, màng não, xơng khớp, ruột hạch, đặc biệt là lao sinh dục.
* Lao màng bụng thể loét - bã đậu
Thể này thờng là diễn biến không tốt từ thể cổ trớng tự do, hay phối hợp với
lao ở các nơi khác trong ổ bụng nh lao ruột, lao sinh dục hay với lao phổi, lao
màng phổi.
Bệnh khởi phát từ từ với biểu hiện sốt, sút cân, buồn nôn, nôn mửa, táo bón và
ỉa chảy xen kẽ, bụng to dần sau vài tháng.
ở giai đoạn toàn phát, khi khám thấy bụng có hình bầu dục, sờ thấy chỗ
mềm, chỗ cứng, gõ thấy vùng trong vùng đục xen kẽ, vùng trong vùng đục
không thay đổi theo t thế khám (dấu hiệu bàn cờ). Các triệu chứng toàn thân
biểu hiện rầm rộ với sốt cao, ra mồ hôi, gầy sút, suy nhợc, mạch nhanh, huyết áp
hạ.
* Lao màng bụng thể xơ dính
Thể này thờng tiếp theo thể cổ trớng hoặc loét bã đậu. Dịch cổ trớng cạn dần,
bụng nhỏ dần ngày càng lõm xuống, sờ nắn bụng thấy có những đám cứng thành
từng mảng tơng ứng với các ổ viêm xơ của mạc nối.
Tổ chức xơ phát triển chèn ép vào các cơ quan trong bổ bụng nh chèn ép ruột
gây hội chứng bán tắc hay tắc ruột; chèn ép vào tĩnh mạch chủ dới gây phù hai
chi dới, chèn ép vào ống mật chủ gây vàng da.
* Lao màng bụng khu trú
Lao vùng hồi manh tràng có thể kèm theo phản ứng viêm màng bụng khu trú,
có thể biểu hiện cấp tính (giống viêm ruột thừa cấp) hay biểu hiện mạn tính
(giống viêm ruột thừa mạn tính hay viêm manh tràng mạn tính). Lao màng bụng
chậu hông mạn tính thờng gặp sau lao sinh dục, lao tiết niệu hay lao xơng khớp
của khung chậu.
1.3.5. Triệu chứng cận lâm sàng của lao màng bụng
1.3.5.1. Công thức máu
Số lợng bạch cầu bình thờng trong phần lớn các trờng hợp
10
Đôi khi có thiếu máu nhẹ
Tốc độ máu lắng tăng trong đa số các trờng hợp.
1.3.5.2. Chọc dịch màng bụng
Xét nghiệm dịch màng bụng rất quan trọng trong chẩn đoán lao màng bụng.
Màu sắc: Thờng dịch màng bụng màu vàng chanh, đôi khi trắng đục hoặc
màu hồng.
Prôtêin > 30g/l gặp 85% - 100% các trờng hợp.
Phản ứng Rivalta dơng tính 100% các trờng hợp
Tế bào dịch màng bụng: Giai đoạn đầu có cả bạch đa nhân và bạch cầu
lymphô. Trong những trờng hợp DMB có lợng Protein > 30 g/l, nhiều tế
bào lymphô (tỷ lệ lymphô bào > 50%) thì cần nghĩ đến nguyên nhân do
lao. Tuy nhiên cũng có thể gặp những thay đổi nh vậy trong ung th màng
bụng [17].
Vi khuẩn: Việc tìm thấy trực khuẩn lao trong dịch màng bụng là tiêu
chuẩn vàng để chẩn đoán xác định. Bằng phơng xét nghiệm soi trực tiếp tỷ
lệ dơng tính rất thấp. Ngay cả việc sử dụng phơng pháp nuôi cấy trong
nhiều nghiên cứu cũng cho những tỷ lệ dơng tính khác nhau thay đổi từ 0
80% trờng hợp [19, 16]. Với thời gian nuôi cấy từ 8 12 tuần thì
không thể giúp cho ngời thầy thuốc quyết định một chế độ điều trị kịp
thời.
Phản ứng chuỗi Polymezase ( PCR: Polymezase Chain Reaction): Sự
khuếch đại của ADN bởi phản ứng chuỗi đa phân tử trong dịch màng
bụng để phát hiện trực tiếp vi khuẩn lao. Hiện nay, kỹ thuật này đợc đánh
giá có khả năng chẩn đoán bệnh một cách chính xác trong thời gian 48h,
độ nhậy và độ đặc hiệu cao. Tuy nhiên, giá thành kỹ thuật cao và đòi hỏi
trang thiết bị hiện đại nên khó có điều kiện áp dụng phổ biến ở các nớc
đang phát triển. Nghiên cứu của Hồ Nam Phơng (2002) cho thấy kỹ thuật
PCR trong dịch màng bụng có độ nhậy 35,7%, độ đặc hiệu 100% [16].
1.3.5.3. Siêu âm ổ bụng
11
Những hình ảnh thấy đợc qua siêu âm tuy không đặc hiệu song có tính chất gợi
ý. Qua siêu âm có thể thấy đợc những hình ảnh:
Dạng cổ trớng: Dịch cổ trớng có thể tự do hoặc khu trú và mạc treo dày
lên.
Mạc nối dày và nhiều khối u trong ổ bụng
Phúc mạc dày, có nhiều đám dính
Các quai ruột dính với nhau và dính với mạc treo.
1.3.5.4. Chụp cắt lớp vi tính ổ bụng.
Trong trờng hợp có rất ít dịch màng bụng, chụp cắt lớp có thể thấy hình
ảnh dịch nằm ở khoang giữa gan và thận phải. Đối với thể loét bã đậu, thể cổ tr-
ớng khu trú hoặc thể hình thành một bọc, chụp cắt lớp giúp tiếp cận tốt nhất với
chất chứa trong khối phải thăm dò nhng không cho phép loại trừ khả năng u [7].
Ngoài ra chụp cắt lớp cho thấy rõ hình ảnh mạc treo, mạc nối dầy lên, tổn
thơng các quai ruột, hình ảnh khối u.
1.3.5.5. Soi ổ bụng và sinh thiết màng bụng
Soi ổ bụng: Đánh giá các hình ảnh đại thể hóa của lao màng bụng. Có 3 hình
ảnh nội soi của lao màng bụng [12].
Các hạt lao là những tổn thơng đặc hiệu. Đó là những hạt màu trắng nhạt,
hơi trong hoặc màu vàng. Kích thớc đều nhau to bằng đầu đinh ghim 3-4mm đến
hạt kê, số lợng có rất nhiều rải rác trên khắp màng bụng (cả lá thành và lá tạng),
song có khi ít hơn, chỉ khu trú ở một số vùng nh hạ sờn phải, khng chậu bé hoặc
tụ tập thành những đám nhỏ. Mạc nối, mạc treo, phần phụ sinh dục nữ có những
hạt, tính chất giống các hạt ở màng bụng.
Viêm màng bụng là dấu hiệu kém đặc hơn. Soi ổ bụng thấy màng bụng
xung huyết, dày lên, phù nề hoặc mọng nớc, tăng tới máu. Có dấu hiệu viêm
quanh gan và có khi có dịch rỉ fibrin lắng đọng trên bề mặt của màng bụng.
Dính là những tổn thơng thờng xuất hiện chậm song có thể thấy ngay khi
bệnh mới bắt đầu. Dính có thể mỏng trong suốt không có mạch máu, đồng đều
hoặc thủng thành những cửa sổ tròn hoặc bầu dục, có khi trông nh những sợi của
màng. Dính có khi dày tạo nên những cột, những thừng hoặc vách trên đó nhìn
12
thấy những mạch máu mới của màng bụng. Nó có thể phù nề, mọng nớc, xung
huyết. Các tổn thơng dính này có thể ít hoặc nhiều và làm cho soi ổ bụng khó
khăn, làm cho việc nhận xét các nội tạng trong ổ bụng. Tuy nhiên, không đợc
đầy đủ, có khi không soi đợc ổ bụng.
Tuy nhiên, hình ảnh tổn thơng của lao màng bụng không chỉ đơn thuần mà th-
ờng là phối hợp với nhau.
Ngoài ra, soi ổ bụng còn phát hiện đợc cổ trớng nhẹ mà lâm sàng không thấy,
dịch cổ trớng màu vàng chanh, đục, hồng hoặc dịch máu, cổ trớng có vách ngăn.
* Sinh thiết màng bụng :
Trong khi soi ổ bụng tiến hành sinh thiết màng bụng tại vùng nghi ngờ, sau đó
làm xét nghiệm mô bệnh học để tìm tổn thơng viêm lao.
Xác định lao màng bụng khi:
Nang lao: gồm ít nhất 3/5 thành phần: Vi khuẩn lao, tế bào khổng lồ, tế
bào bán liên, tế bào lymphô, tế bào xơ.
Tổn thơng viêm lao nhng không có nang lao
1.3.5.6. Các xét nghiệm khác
Xét nghiệm đờm tìm vi khuẩn lao, chụp X quang lồng ngực: có thể phát
hiện hình ảnh tổn thơng lao kết hợp nh lao kê, lao màng phổi. Những trờng hợp
cổ trớng, dịch màng bụng là dịch tiết không thấy tế bào ung th, cũng không thấy
vi khuẩn lao mà xét nghiệm đờm tìm thấy vi khuẩn lao cùng với hình ảnh tổn th-
ơng trên phim chụp phổi đợc coi nh là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để
chẩn đoán lao màng bụng.
Chụp Xquang ổ bụng: không giúp gì nhiều trong chẩn đoán xác định. Chụp
đờng tiêu hóa cản quang có thể thấy những gấp góc bất thờng, những quai ruột
gan cứng đờ, những hình ảnh thay đổi của viêm mạc có thể gợi nên sự tổn thơng
của mạc treo ruột [7].
Phản ứng Mantoux: thờng dơng tính mạnh, theo y văn phản ứng Mantoux
dong tính 30 100%. Trong trờng hợp âm tính cũng không có giá trị loại trừ lao
màng bụng, đặc biệt trong những trờng hợp bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch
nh nhiễm HIV.
13
Mở ổ bụng thăm dò: phẫu thuật trong lao màng bụng đợc áp dụng khi lao
màng bụng có biến chứng nh: tắc ruột, thủng ruột, dò ruột, hoặc những đám dính
không thể giải quyết đợc bằng thuốc. Mặt khác,phẫu thuật thăm dò để chẩn đoán
trong những trờng hợp khác. Mặc dù phần lớn bệnh nhân đợc chẩn đoán xác
định bằng xét nghiệm, soi ổ bụng và sinh thiết xét nghiệm mô bệnh học, vẫn có
khoảng 10 20% bệnh nhân cần đến mở bụng thăm dò mới chẩn đoán xác định
lao màng bụng (khi không có chống chỉ định) [7].
1.3.6.Tình hình nghiên cứu lao màng bụng
1.3.6.1.Tình hình lao màng bụng trên thế giới.
Tại các nớc công nghiệp phát triển nh Mỹ lao màng bụng chiếm 0,5% trong
tổng số các trờng hợp mắc bệnh lao. ở Pháp, lao màng bụng ít gặp hơn lao phổi
và lao màng phổi, với tỷ lệ cứ 20 trờng hợp lao màng phổi và 200 lao phổi mới
có 1 lao màng bụng [7].
Tại các nớc đang phát triển, nhìn chung lao màng bụng chiếm khoảng 1,5%
các trờng hợp lao [7].
Theo kết quả nghiên cứu của Thoreau N., và cộng sự (2002) cho thấy lứa tuổi
hay mắc bệnh từ 20-40 tuổi chiếm tỷ lệ 59,3% [38].
1.3.6.2. Tình hình lao màng bụng ở Việt Nam
ở Việt Nam, theo Nguyễn Việt Cồ, LMB chiếm1,4% tổng số các trờng hợp
bệnh laođợc điều trị tại Viện Lao và Bệnh Phổi báo và xếp thứ 6 sau lao phổi,
màng phổi, xơng khớp, màng não, hạch. Trần Hà lao màng bụng chiếm 6,5% số
bệnh nhân lao ngoài phổi đến khám tại phòng khám Viện Lao và Bệnh Phổi năm
1985 [7].
Tỷ lệ giới và tuổi cũng khác nhau ở từng nghiên cứu. Nghiên cứu của Nguyễn
Thị Hòa Bình và Nguyễn Hữu Lộc (1982) [1] thấy nữ chiếm u thế, trong nghiên
cứu của Nguyễn Đức Chính (1996) lại thấy nam chiếm u thế [2].
Lứa tuổi mắc lao màng bụng cũng khác nhau ở các nghiên cứu. Hoàng Long
Phát (1998) nghiên cứu về lao ngoài phổi thấy lứa tuổi hay mắc lao màng bụng
là 20 29 tuổi [15], Nguyễn Thị Hòa Bình và Nguyễn Hữu Lộc (1982) cũng
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét