Chủ Nhật, 9 tháng 3, 2014

Tài liệu Đề tài:Thị trường Bảo hiểm nông nghiệp và một số giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam doc


http://svnckh.com.vn
v

4. Đánh giá các hoạt động trên thị trường bảo hiểm nông nghiệp Việt nam. . 53
4.1 Những thất bại trong quá trình triển khai 53
4.2 Kết quả hoạt động bảo hiểm nông nghiệp của Việt Nam 55
4.3 Nguyên nhân bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam chưa phát triển 56
4.3.1 Sản phẩm nông nghiệp chịu nhiều yếu tố rủi ro 56
4.3.2 Quản lý rủi ro trong hoạt động bảo hiểm nông nghiệp ở Việt nam còn
hạn chế 58
4.3.3 Thị trường tái bảo hiểm chưa phát triển mạnh 59
4.3.4 Trình độ và nhận thức người dân chưa cao 60
4.3.5 Chưa có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước 63
Chương III: Giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm nông nghiệp Việt
Nam 66
I. Định hướng phát triển TT BH nông nghiệp ở Việt Nam 66
1. Quan điểm của Nhà nước 66
2. Định hướng phát triển TT 67
II. Giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam 68
1. Giải pháp về phía Nhà nước 68
2. Giải pháp về phía hiệp hội bảo hiểm. 71
3. Giải pháp về phía doanh nghiệp bảo hiểm 72
4. Giải pháp về phía người nông dân 73
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo

http://svnckh.com.vn
vi

Danh mục từ viết tắt

TT
Thị trường
BHNN
Bảo hiểm nông nghiệp
BH
Bảo hiểm
XH
Xã hội
DN
Doanh nghiệp
No&PTNT
Nông nghiệp và phát triển nông thôn.

















http://svnckh.com.vn
vii

Danh mục bảng biểu

Tên hình và bảng biểu
Trang
Hình 1: Mô hình tổ chức hệ thống BH tương hỗ Nhật Bản
16
Hình 2: Cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế 2000-2008
20
Hình 3: Tỷ lệ bồi thường của Bảo Việt và Groupama
41
Hình 4: Mô hình của sản phẩm BH tín dụng tại ABIC
52
Hình 5: Doanh thu và bồi thường BHNN 2004-2008
56


Bảng 1: Diện tích lúa và sản lượng hàng năm 2000-2008
26
Bảng 2: Diện tích các loại cây trồng phân theo nhóm cây 2000-2007
31
Bảng 3: BH cây lúa của Bảo Việt 1982-1983
38
Bảng 4: Số liệu thống kê về cơ cấu nợ xấu tính theo nguyên nhân hộ sản xuất
và cá nhân 2002-2006
42
Bảng 5: Kết quả triển khai BH cây cao su, bò sữa của Bảo Việt
54
Bảng 6: Kết quả BHNN của Groupama
55
Bảng 7: Kết quả hoạt động nghiệp vụ BHNN toàn thị trường
55
Bảng 8: Ví dụ về cơ chế chia sẻ rủi ro trong BHNN
70
1

http://svnckh.com.vn
1

Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước sản xuất nông nghiệp lớn với hơn 70% dân số sống bằng nghề
nông. Mặc dù nền nông nghiệp Việt Nam có vai trò vị trí chiến lược trong việc phát
triển kinh tế, xã hội, ổn định chính trị, nâng cao đời sống nhân dân và là một ngành sản
xuất chính nhưng thu nhập của người nông dân từ lĩnh vực này lại không đáng kể. Hơn
nữa, ở Việt Nam lại chưa có một nền nông nghiệp sản xuất lớn theo đúng nghĩa, vẫn
duy trì nền sản xuất nhỏ lẻ theo quy mô hộ gia đình, chủ yếu dựa vào sức lao động,
không sản xuất theo kế hoạch mà chủ yếu lại theo tập quán. Do đó, sản xuất nông
nghiệp của Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào vấn đề thời tiết, vị trí địa lý, đặc điểm về
địa hình… mà Việt Nam lại là một trong những nước chịu nhiều ảnh hưởng và hậu quả
do thiên tai gây ra, là một trong năm ổ bão của khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Vì
vậy, tất yếu sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam phải chịu những rủi ro không chỉ về
thiên tai, dịch bệnh mà bên cạnh đó là những rủi ro từ nền kinh tế vĩ mô, về chính trị…
Đây cũng là những nguyên nhân chính dẫn đến nông nghiệp Việt Nam là một thị
trường tiềm năng cho Bảo hiểm nông nghiệp. Bảo hiểm nói chung và Bảo hiểm nông
nghiệp nói riêng đều là những lá chắn cho nền kinh tế, làm giảm thiểu rủi ro có thể sẽ
xảy ra đối với những người mua bảo hiểm. Và bảo hiểm nông nghiệp ra đời là một nhu
cầu cấp thiết đối với nền nông nghiệp Việt Nam nói chung và người nông dân nói riêng,
là cứu cánh làm giảm bớt những rủi ro do thiên tai, dịch bệnh gây ra. Tuy nhiên trên
thực tế vấn đề Bảo hiểm Nông nghiệp ở Việt Nam vẫn chưa thực sự được triển khai có
hiệu quả, thị trường bảo hiểm nông nghiệp vẫn chưa phát triển và còn gặp rất nhiều
khó khăn. Từ vấn đề thực sự cấp thiết này, nhóm đề tài xin đề xuất bài nghiên cứu:
“Thị trường Bảo hiểm nông nghiệp và một số giải pháp phát triển thị trường bảo
hiểm nông nghiệp ở Việt Nam”.
2

http://svnckh.com.vn
2

2. Mục đích nghiên cứu
- Thứ nhất, đề tài làm rõ các khái niệm tổng quan về thị trường, thị trường bảo
hiểm và thị trường bảo hiểm nông nghiệp, các kinh nghiệm áp dụng trên thế giới
- Thứ hai, trình bày về thực tiễn áp dụng bảo hiểm nông nghiệp tại Việt Nam
trong thời gian qua và đánh giá những khó khăn còn tồn tại.
- Thứ ba, định hướng và đưa ra nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển cũng
như nâng cao chất lượng bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: đề tài nghiên cứu tập trung phân tích về thị trường bảo
hiểm nông nghiệp tại Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu về các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
bảo hiểm nông nghiệp, những người nông dân tham gia bảo hiểm tại Việt Nam
4. Phương pháp nghiên cứu
Nhóm đề tài sử dụng phương pháp thu thập số liệu và tổng hợp, phân tích- thống kê,
phân tích- so sánh, phương pháp mô hình hoá- đồ thị nhằm đưa ra đánh giá hợp lý,
nhận định chính xác về đối tượng được nghiên cứu.
5. Kết cấu bài nghiên cứu
Bài nghiên cứu gồm 3 chương:
Chương I: Khái quát về thị trường bảo hiểm nông nghiệp.
Chương II: Thực trạng thị trường bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam
Chương III: Giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam.
Với phương pháp nghiên cứu thu thập, tổng hợp và phân tích, nhóm đề tài xin đưa ra
những nhận định phân tích về thị trường bảo hiểm đồng thời đề xuất những giải pháp
nhằm phát triển thị trường bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam trong thời gian tới.

3

http://svnckh.com.vn
3

Chương I: Khái quát về thị trường bảo hiểm nông
nghiệp
I. Vài nét về thị trường
1. Khái niệm.
Thị trường (TT) là phạm trù kinh tế tổng hợp gắn liền với quá trình sản xuất và lưu
thông hàng hoá. Thừa nhận sản xuất hàng hoá không thể phủ định sự tồn tại khách
quan của TT. Tuỳ từng điều kiện và giác độ nghiên cứu mà người ta đưa ra các khái
niệm TT khác nhau.
Khái niệm cổ điển cho rằng: TT là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán hàng
hoá. Theo khái niệm này người ta đã đồng nhất TT với chợ và những địa điểm mua bán
hàng hoá cụ thể. Trong kinh tế hiện đại ít dùng khái niệm này. Khái niệm hiện đại về
TT rất nhiều:
Theo sự tương tác của các chủ thể trên TT người ta cho rằng: TT là quá trình người
mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau để giải quyết giá cả và số lượng hàng hoá
mua bán. Theo quan niệm này tác động và hình thành TT là một quá trình không thể
chỉ là thời điểm hay thời gian cụ thể.
Theo nội dung, chúng ta có thể quan niệm: TT là tổng thể các quan hệ về lưu thông
hàng hoá và lưu thông tiền tệ, tổng thể các giao dịch mua bán và các dịch vụ. Như vậy,
TT vừa có yếu tố ảo, vừa có yếu tố thực. Bản chất của TT là giải quyết các quan hệ.
Cũng có quan điểm cho rằng, TT bao gồm toàn bộ các hoạt động trao đổi hàng hóa
được diễn ra trong sự thống nhất hữu cơ với các mối quan hệ do chúng phát sinh gắn
liền với một không gian nhất định.
Quan điểm khác lại cho rằng, TT là trung tâm của các hoạt động kinh tế, là nơi diễn ra
các quan hệ trao đổi, là lĩnh vực lưu thông hàng hóa mà ở đó hàng hóa thực hiện giá trị
của mình đã được tạo ra trong quá trình sản xuất. TT là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu, là
nơi diễn ra các hoạt động mua, bán hàng hóa bằng tiền tệ.
4

http://svnckh.com.vn
4

Còn theo góc độ marketing thì TT bao gồm tất cả những khách hàng tiềm ẩn cùng có
một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa
mãn nhu cầu và mong muốn đó.
2. Yếu tố cấu thành thị trường
Cung – Cầu và mức giá xác định của sản phẩm
Người bán và người mua là hai lực lượng cơ bản trên TT. Đó cũng là hình ảnh cụ thể
nhất của 2 yếu tố cung-cầu của TT. Trong hệ thống TT, mọi thứ đều có giá cả, đó là giá
trị của hàng hoá và dịch vụ được tính bằng tiền.
3. Đặc điểm
Trước hết, hành vi cơ bản của TT là hành vi mua và bán. Thông qua hoạt động mua và
bán hàng hóa, dịch vụ, người mua tìm được cái mình cần và người bán được cái mình
muốn với giá thỏa thuận.
Hành vi mua và bán được diễn ra trong không gian và thời gian nhất định. Nó tạo ra
những mối quan hệ kinh tế trong nền kinh tế-XH, quan hệ giữa sản xuất với tiêu dùng,
quan hệ giữa cung và cầu, quan hệ giữa đối tác và cạnh tranh, quan hệ giữa hàng hóa
và tiền tệ…
Trên TT, quan hệ cạnh tranh diễn ra rất gay gắt giữa các đối thủ - cạnh tranh giữa
người bán với người mua, cạnh tranh giữa người mua với người mua, cạnh tranh giữa
người bán với người bán về các khía cạnh như chất lượng, mẫu mã sản phẩm, giá cả
sản phẩm…; cạnh tranh trên TT diễn ra phức tạp. sôi động nhưng lại hấp dẫn. Cạnh
tranh sẽ mang lại niềm vinh quang cho các đối thủ biểt tận dụng khả năng, lợi thế của
mình, đồng thời biết kiểm soát và loại trừ rủi ro.
Trên thực tế, TT có thể được phân ra nhiều loại khác nhau: TT chính, TT phụ, TT nội
địa, TT quốc tế, TT hàng hóa, TT dịch vụ, TT sức lao động, TT chứng khoán, TT
BH… Chúng có những điểm chung giống nhau như đều chứa tổng số cung, tổng số
cầu, yếu tố không gian và thời gian, đều diễn ra các hoạt động mua bán và các quan hệ
hàng hóa, tiền tệ… Song mỗi TT khác nhau lại mang những đặc trưng khác nhau, điều
này tạo nên tính đa dạng và phong phú của hệ thống TT trong nền kinh tế- XH.
5

http://svnckh.com.vn
5

II. Quy luật điều tiết thị trường:
1. Quy luật giá trị:
Theo quy luật giá trị, sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở hao phí lao
động XH cần thiết.
Trong kinh tế hàng hoá, mỗi người sản xuất tự quyết định hao phí lao động cá biệt của
mình, nhưng giá trị của hàng hoá không phải được quyết định bởi hao phí lao động cá
biệt của từng người sản xuất hàng hoá, mà bởi hao phí lao động XH cần thiết. Vì vậy,
muốn bán được hàng hoá, bù đắp được chi phí và có lãi, người sản xuất phải điều chỉnh
làm cho hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức chi phí mà XH chấp nhận
được.
Trao đổi hàng hoá cũng phải dựa trên cơ sở hao phí lao động XH cần thiết, có nghĩa là
trao đổi theo nguyên tắc ngang giá.
Sự vận động của quy luật giá trị thông qua sự vận động của giá cả hàng hoá.Vì giá trị
là cơ sở của giá cả, nên trước hết giá cả phụ thuộc vào giá trị. Hàng hoá nào nhiều giá
trị thì giá cả của nó sẽ cao và ngược lại.
Trên TT, ngoài giá trị, giá cả còn phụ thuộc vào các nhân tố: cạnh tranh, cung cầu, sức
mua của đồng tiền.Sự tác động của các nhân tố này làm cho giá cả hàng hoá trên TT
tách rời với giá trị và lên xuống xoay quanh trục giá trị của nó. Sự vận động giá cả TT
của hàng hoá xoay quanh trục giá trị của nó chính là cơ chế hoạt động của quy luật giá
trị. Thông qua sự vận động của giá cả TT mà quy luật giá trị phát huy tác dụng.
2. Quy luật cung cầu:
Khi cung nhỏ hơn cầu có nghĩa là khối lượng hàng hoá cung ứng trên TT không đáp
ứng được nhu cầu dẫn đến giá cả TT hàng hoá đó tăng lên. Khi cung bằng cầu có nghĩa
là khối lượng hàng hoá đáp ứng đủ nhu cầu sẽ dẫn đến giá cả cân bằng và không thay
đổi. Khi cung lớn hơn cầu, tức là khối lượng hàng hoá cung ứng vượt quá cầu dẫn đến
giá cả TT giảm xuống.
3. Quy luật giá cả:
6

http://svnckh.com.vn
6

Quan hệ cung-cầu là một khái niệm của kinh tế TT và người ta xem cung-cầu là một
hàm số của giá. Nghĩa là một sự thay đổi của giá sẽ làm thay đổi quan hệ cung-cầu.
Trong nền kinh tế TT giá cả điều tiết quan hệ cung-cầu. Mối quan hệ này này phụ
thuộc vào độ co giãn của cung hay cầu theo giá. Do đặc điểm là trong ngắn hạn độ co
giãn của cung là rất nhỏ do vậy sự tăng lên của cầu sẽ làm giá tăng nhanh hơn. Trong
dài hạn, độ co giãn của cung lớn hơn nên sự tăng giá cũng chậm hơn.
4. Quy luật cạnh tranh:
Cạnh tranh là một quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá bởi thực chất nó xuất phát từ
quy luật giá trị của sản xuất hàng hoá. Trong sản xuất hàng hoá, sự tách biệt tương đối
giữa những người sản xuất, sự phân công lao động XH tất yếu dẫn đến sự cạnh tranh
để giành được những điều kiện thuận lợi hơn như gần nguồn nguyên liệu, nhân công
rẻ, gần TT tiêu thụ, giao thông vận tải tốt, khoa học kỹ thuật phát triển nhằm giảm
mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động XH cần thiết để thu được
nhiều lãi. Khi còn sản xuất hàng hoá, còn phân công lao động thì còn có cạnh trạnh.
III. Thị trường bảo hiểm
1. Khái niệm
Bảo hiểm (BH) là một ngành kinh doanh đặc biệt trong XH. Để hoạt động kinh doanh
BH ra đời và phát triển đòi hỏi phải có TT BH.
TT BH là nơi diễn ra hoạt động mua bán các sản phẩm BH.
Khác với các loại sản phẩm khác trên TT, sản phẩm BH không tồn tại hữu hình, không
có hình dáng, kích thước, trọng lượng… Nó là loại sản phẩm dịch vụ đặc biệt, vô hình
và là loại sản phẩm mà người mua không bao giờ muốn nó xảy ra để được thực hiền
quyền đòi bồi thường hay trả tiền BH. Người mua sản phẩm BH chỉ với mục đích đề
phòng khi sự kiện được BH xảy ra vẫn đảm bảo được an toàn về mặt tài chính, ổn định
được quá trình sản xuất kinh doanh cũng như đời sống sinh hoạt XH.
Tham gia vào TT BH cũng gồm người mua (khách hàng), người bán (các DN kinh
doanh BH) và các tổ chức trung gian (người môi giới BH).
7

http://svnckh.com.vn
7

- Người mua BH hay còn gọi là người được BH (Insured): là những tổ chức hay cá
nhân có tài sản hay trách nhiệm dân sự theo luật định, tính mạng hay tình trạng sức
khỏe cần phải tham gia BH sẽ trực tiếp hay thông qua người môi giới mua các sản
phẩm BH.
Người được BH là người mua BH của DN BH, là người có tên trên hợp đồng BH hoặc
là người được hưởng lợi ích trên hợp đồng BH.
- Người bán BH hay còn gọi là người BH (Insurer): là các DN kinh doanh BH. Họ là
người kí hợp đồng BH và cam kết bồi thường cho người mua BH tất cả những tổn thất
do rủi ro được BH là nguyên nhân trực tiếp gây ra.
Các DN kinh doanh BH hiện nay (theo Điều 59 Luật kinh doanh BH của Việt Nam
được Quốc hội thông qua tháng 12-2000) bao gồm: DN BH nhà nước, DN BH cổ phần,
DN BH liên doanh, tổ chức BH tương hỗ và DN BH 100% vốn đầu tư nước ngoài.
- Tổ chức trung gian hay còn gọi là người môi giới (broker), đại lí (agent) BH: là cầu
nỗi giữa người mua và người bán BH.
Một “trung gian BH” có thể hoạt động dưới hình thức đại lí hay môi giới BH.
+ Môi giới BH:
Môi giới BH có thể là công ty hoặc cá nhân đứng ra thu xếp BH với các công ty BH.
Họ có thể tư vấn về các vấn đề như nhu cầu BH, hợp đồng BH, TT BH, khiếu nại, kiện
tụng… Môi giới BH có thể đại diện cho cả DN BH và người được BH.
+ Đại lí BH:
Đại lí BH có thể là tổ chức hay cá nhân được DN BH ủy quyền trên cơ sở hợp đồng đại
lí. Đại lí BH thay mặt DN và được hưởng lương hoặc tiền hoa hồng thoe thỏa thuận.
Như vậy. đại lí thường được coi là đại lí cho DN kinh doanh BH.
2. Đặc trưng cơ bản.
Giống như các loại TT khác, TT BH cũng có những đặc trưng chung, cụ thể như sau:
- Trên TT BH, cung và cầu luôn biến động:
Cung trên TT BH chính là các sản phẩm BH do các DN kinh doanh trên thị trườn cung
cấp để phục vụ khách hàng của mình. Các DN tham gia kinh doanh dịch vụ BH trên

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét