Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2014

Hoàn thiện pháp luật về hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân

pháp lý sau hoạt động giám sát (khi phát hiện vấn đề thì xử lý như thế nào). Từ mối quan hệ trên, có thể
xác định phương pháp điều chỉnh của pháp luật về giám sát của HĐND gồm các phương pháp sau:
Phương pháp mệnh lệnh, Phương pháp bắt buộc, Phương pháp quyền uy, Phương pháp kiến nghị.
Vai trò pháp luật hoạt động giám sát của HĐND: Trong phần này, Luận án xuất phát từ việc
nghiên cứu vai trò của HĐND trong bộ máy nhà nước để tìm hiểu về vai trò của pháp luật giám sát
của HĐND. Trong tổ chức bộ máy, một tổ chức đại diện cho nhân dân quản lý hoạt động ở địa
phương là cần thiết và tất yếu, quyết định vấn đề quan trọng ở địa phương, đồng thời kiểm soát việc
thực hiện quyền lực nhà nước. Ngay từ những ngày đầu lập nước đã xác định nguyên tắc tổ chức
chính quyền địa phương trong đó có HĐND. Việc thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận,
phường chưa đưa đến kết quả chính thức, mặt khác, xét về chính quyền địa phương (3 cấp) thì
HĐND cũng vẫn tồn tại ở cấp tỉnh, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và xã, thị trấn.
Chức năng giám sát là một trong hai chức năng quan trọng của cơ quan dân cử. Giám sát
ngày nay trở thành một chức năng quan trọng của cơ quan dân cử. Để HĐND thực hiện được
hoạt động giám sát thì tất yếu phải có quy định pháp luật về giám sát, nói cách khác, phải có quy
phạm pháp luật điều chỉnh để xác định cơ sở pháp lý cho HĐND tiến hành hoạt động giám sát
một cách có hiệu quả. HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước vì vậy càng cần phải có luật quy
định về hoạt động của HĐND, trong đó có hoạt động giám sát.
Từ các nghiên cứu, luận án chỉ ra vai trò của pháp luật giám sát của HĐND thể hiện ở các
điểm sau: (1) có vai trò chung của pháp luật, đó là công cụ điều chỉnh quan trọng, hữu hiệu nhất
các quan hệ xã hội; (2) là cơ sở pháp lý thực thi quyền giám sát của nhân dân đối với hoạt động
của bộ máy nhà nước ở địa phương; (3) là công cụ quan trọng trong việc tạo dựng sự cân bằng
trong hoạt động quản lý nhà nước; (4) nâng cao nhận thức của các đối tượng liên quan về vai trò
của hoạt động giám sát của HĐND; (5) là công cụ quan trọng để thực hiện và đảm bảo quyền
dân chủ ở địa phương.
2.2 Phƣơng hƣớng, tiêu chí và các yếu tố ảnh hƣởng đến pháp luật giám sát của Hội
đồng nhân dân
Phương hướng cơ bản hoàn thiện pháp luật giám sát của HĐND trong yêu cầu xây dựng
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa:
- Hoàn thiện các quy định pháp luật về các cơ chế, cách thức thực hiện thiết chế dân chủ.
- Hoàn thiện quy định pháp luật về hoạt động giám sát của HĐND gắn với đổi mới cơ
quan tư pháp ở địa phương:
- Tăng cường công khai, minh bạch, rõ ràng khi xây dựng pháp luật giám sát của HĐND:
- Pháp luật hoạt động giám sát của HĐND cần phải quy định cả pháp luật về nội dung và
hình thức.
Tiêu chí hoàn thiện pháp luật hoạt động giám sát của HĐND. Từ đặc điểm của pháp luật
hoạt động giám sát của HĐND, luận án đưa ra hệ thống tiêu chí gồm:
- Tiêu chí đảm bảo sự chế ước quyền lực nhà nước, kiểm soát quyền lực cơ quan nhà
nước ở địa phương.
- Tiêu chí đồng bộ, hài hòa với hệ thống pháp luật.
- Tiêu chí minh bạch.
- Tiêu chí vận hành bộ máy đồng bộ.
- Tiêu chí kinh tế, hiệu quả.
- Tiêu chí khả thi.
Những yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật hoạt động giám sát của HĐND. Luận án trình
bày các yếu tố ảnh hưởng gồm:
- Chế độ chính trị. với đặc trưng là một đảng cầm quyền.
- Yêu cầu khách quan của cuộc sống: Xu thế dân chủ ngày càng được đòi hỏi cao, người
dân tham gia trực tiếp và gián tiếp vào quản lý nhà nước.
- Trình độ dân trí. Dân trí phát triển kéo theo đòi hỏi nâng cao dân chủ
- Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Hai nguyên tắc cơ bản của nhà nước
pháp quyền là: pháp luật minh bạch và có tính tối thượng; nhà nước tổ chức theo mô hình phân
công (phân chia) quyền lực để có sự kiểm soát quyền lực.
- Cơ cấu, tổ chức của bộ máy nhà nước. xác định vị trí, vai trò của HĐND trong cơ cấu tổ
chức bộ máy nhà nước, mối quan hệ với cơ quan tư pháp, UBND sẽ quyết định tới việc xác định
quyền giám sát của HĐND.
- Cơ cấu, tổ chức HĐND. Cơ cấu, tổ chức HĐND gồm các yếu tố: cơ cấu, thành phần đại
biểu HĐND; tổ chức bộ máy HĐND (TT HĐND, Ban của HĐND …) quyết định tới việc xây
dựng pháp luật giám sát của HĐND phù hợp với năng lực thực hiện pháp luật.
- Ảnh hưởng của Luật hoạt động giám sát Quốc hội.
Đổi mới tổ chức chính quyền địa phương và mối quan hệ với hoàn thiện pháp luật hoạt
động giám sát của Hội đồng nhân dân.
Luận án chỉ ra rằng việc đổi mới chính quyền địa phương là cần thiết để đáp ứng yêu cầu
của tình hình mới, bởi mô hình hiện nay đã tồn tại hơn 60 năm. Luận án đánh giá việc tiến hành
thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường từ năm 2009 đến nay. Luận án cũng đề xuất
một số đổi mới về tổ chức chính quyền địa phương, trong đó xác định chính quyền mấy cấp, cấp
xã và cấp tỉnh luôn là cấp hành chính cơ bản. Việc đổi mới tổ chức chính quyền địa phương sẽ
quyết định tới chức năng, nhiệm vụ chung của HĐND, trong đó có chức năng giám sát. Pháp luật
về hoạt động giám sát của HĐND cũng phải có những thay đổi phù hợp với mô hình tổ chức
mới, đảm bảo nguyên tắc thay mặt nhân dân kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước.
2.3 Pháp luật về giám sát của cơ quan dân cử địa phƣơng một số nƣớc và giá trị vận
dụng vào thực tiễn ở Việt Nam.
Pháp luật nói chung cũng như pháp luật về giám sát của cơ quan dân cử chịu tác động bởi
nhiều yếu tố, trong đó có thể chế chính trị, nguyên lý xây dựng bộ máy nhà nước, lịch sử phát
triển pháp luật giám sát … Có những kinh nghiệm, quy định của pháp luật là hợp lý với quốc gia
này nhưng lại là bất hợp lý nếu đem áp dụng máy móc vào quốc gia khác. Vì vậy, Luận án
nghiên cứu quy định pháp luật về giám sát của cơ quan dân cử ở một số nước khá điển hình, từ
đó tìm ra những điểm hợp lý, nguyên tắc tổ chức hợp lý vận dụng vào điều kiện, hoàn cảnh thực
tế ở Việt Nam. Những nước mà Luận án xem xét là Na Uy, Anh (Mô hình chính quyền địa
phương không phân định rõ cơ quan dân cử và cơ quan hành pháp); Hàn Quốc, Đức (Mô hình
chính quyền địa phương phân định rõ cơ quan dân cử và cơ quan hành pháp). Luận án rút ra 3 kết
luận, đó là: dù tổ chức theo hình thức nào thì ở tất cả các quốc gia đều đặt ra vấn đề kiểm soát
quyền lực; đối tượng giám sát chủ yếu mà cơ quan dân cử địa phương hướng tới là cơ quan hành
pháp; cần có sự đa dạng về hình thức giám sát.

CHƢƠNG 3
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN
VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN
DÂN
Khi phân tích, nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển pháp luật giám sát của
HĐND, đã trình bày nguyên nhân, lý do phân chia 2 giai đoạn căn cứ vào lịch sử phát triển của
đất nước và những mốc về pháp lý (Hiến pháp, Luật tổ chức HĐND và UBND) cụ thể là: giai
đoạn 1946-1992 và giai đoạn 1992 đến nay.
Trong Chương 3, Luận án tập trung đánh giá thực trạng pháp luật về hoạt động giám sát
của HĐND và thực trạng hoạt động của HĐND theo luật hiện hành là Luật tổ chức HĐND và
UBND năm 2003. Giai đoạn trước năm 2003, Luận án chỉ đánh giá thực trạng một cách khái
quát bởi về mặt pháp luật, Luật tổ chức HĐND và UBND 1994 và các luật trước đó cũng không
có nhiều quy định về hoạt động giám sát của HĐND.
3.1 Quá trình hình thành và phát triển pháp luật giám sát của Hội đồng nhân dân.
Luận án nghiên cứu lịch sử hình thành, phát triển của pháp luật giám sát của HĐND để
đánh giá sự tương thích, phù hợp giữa quy phạm pháp luật và thực tế, xu hướng phát triển của
các quy phạm này, từ đó dự đoán xu thế phát triển, đánh giá tình hình thực tiễn nhằm đưa ra các
kiến nghị sửa đổi phù hợp. Luận án không phân kỳ lịch sử theo mốc Hiến pháp hay Luật về
HĐND mà trên cơ sở đánh giá khái quát quy định về giám sát trong Hiến pháp, luật về HĐND,
Luận án phân ra hai giai đoạn: giai đoạn 1945-1992 và giai đoạn 1992 đến nay. Luận án cũng
nghiên cứu về pháp luật giám sát của HĐND ở những nơi thí điểm không tổ chức HĐND huyện,
quận, phường như một điểm mốc đánh dấu cho một giai đoạn mới trong tương lai. Trên cơ sở
nghiên cứu về lịch sử pháp luật hoạt động giám sát, Luận án đưa ra nhận xét chung là:
Quy phạm pháp luật phù hợp với từng giai đoạn lịch sử, phù hợp tổ chức bộ máy nhà
nước. Tuy nhiên, xu hướng chung vẫn là ngày càng nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động
giám sát của HĐND để đảm bảo thực hiện tốt dân chủ đại diện và xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa. Sự phát triển của pháp luật về hoạt động giám sát của HĐND phụ thuộc
chủ yếu vào 3 yếu tố: (1) Sự phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu của đất nước, nhiệm vụ trọng
tâm, chức năng chính của nhà nước trong thời kỳ. (2) Sự phát triển của quan điểm về dân chủ.
(3) Tổ chức bộ máy HĐND. Luận án cũng nghiên cứu đổi mới pháp luật giám sát của HĐND
gắn với đổi mới chính quyền địa phương, thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường;
cải cách tư pháp … .
3.2 Thực trạng pháp luật về giám sát của Hội đồng nhân dân
Quy định pháp luật về quyền giám sát của HĐND
Luận án đánh giá thực trạng pháp luật về giám sát của HĐND trong Hiến pháp 1992,
Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003, Quy chế hoạt động của HĐND năm 2005. Hiến pháp
quy định chưa đồng bộ về hoạt động giám sát của HĐND; Luật và Quy chế lần đầu tiên có một
chương quy định khá hoàn thiện về giám sát của HĐND. Luận án phân tích những quy định chưa
hợp lý về giám sát của HĐND được quy định trong Luật.
Quy định pháp luật về chủ thể và đối tượng giám sát của HĐND
Luận án phân tích những điểm chưa hợp lý về chủ thể và đối tượng giám sát của
HĐND, trong đó, ĐB HĐND không phải là chủ thể giám sát. Đối tượng giám sát quy định quá
rộng, thiếu tính hợp lý và tính khả thi, có sự chồng lấn giữa các cấp HĐND về đối tượng giám
sát. Chỉ nên tập trung giám sát cơ quan hành chính cùng cấp mà thôi, ngoài ra, với cơ quan tư
pháp thì giám sát báo cáo công tác định kỳ hàng năm .
Quy định pháp luật về hình thức giám sát của HĐND
Luận án, phân tích hình thức giám sát của HĐND theo luật định và nhận thấy hình thức
chưa rõ ràng. Luận án nhóm thành 5 loại hình thức chính, theo từng chủ thể tiến hành giám sát,
đồng thời chỉ ra những hạn chế của từng loại hình thức giám sát: Hình thức bỏ phiếu tín nhiệm:
áp dụng với quá nhiều đối tượng và áp dụng với chính thiết chế bên trong của HĐND, với đối
tượng không có quyền quản lý nhà nước. TT HĐND xem xét việc trả lời chất vấn không có quy
định về quy trình thực hiện, thiếu tính khả thi. Chưa xác định rõ hình thức giám sát là xem xét
kết quả giám sát của Đoàn giám sát. Theo quy định pháp luật hiện nay thì hình thức giám sát là
Đoàn giám sát, đây là sự hiểu sai lầm.
Quy định pháp luật về thủ tục, trình tự và phương thức thực hiện quyền giám sát của
HĐND
Luận án phân tích những quy định chưa hợp lý về thủ tục, trình tự và phương thức thực
hiện quyền giám sát với từng hình thức giám sát, cụ thể là: Hoạt động HĐND xem xét báo cáo
công tác, chưa có sự thống nhất các loại báo cáo cần xem xét, quy trình xem xét báo cáo giữa
năm chưa rõ ràng, việc ban hành nghị quyết cần phải quy định bắt buộc. Hoạt động xem xét việc
chất vấn và trả lời chất vấn, có nhiều quy định khá tiến bộ, nhưng chất vấn giữa hai kỳ họp chưa
rõ ràng, thiếu quy trình để thực hiện. Hoạt động xem xét văn bản quy phạm pháp luật, quy trình
chưa thống nhất và có sự liên kết giữa các chủ thể Ban – TT HĐND – HĐND. Hoạt động xem
xét báo cáo của Đoàn giám sát, chưa phân định rõ hai bước của quy trình là hoạt động của Đoàn
giám sát và hoạt động của chủ thể thành lập Đoàn giám sát; Đoàn giám sát cũng chưa phân định
thẩm quyền của các thành viên Đoàn giám sát; thẩm quyền của đoàn giám sát. Hoạt động bỏ
phiếu tín nhiệm, có nhiều “khóa” nên khó có thể thực hiện được trong thực tế.
Nhìn chung, một số quy định về trình tự, thủ tục là khá tốt, giúp cho HĐND thực hiện
được trong thực tế, tuy nhiên, còn một số quy định khác gây khó khăn cho việc HĐND triển khai
thực hiện. Nguyên nhân không phải tự quy trình đó bất hợp lý mà do cách quy định không chặt
chẽ giữa các bước trong quy trình nên khi bị tác động bởi yếu tố ngoài luật pháp thì HĐND
không thực hiện được quyền giám sát của mình hoặc thực hiện không tốt.
Quy định pháp luật về hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát
Luận án chỉ ra thẩm quyền HĐND áp dụng quy định hậu quả pháp lý chưa rõ ràng, thiếu
chế tài mang tính trung gian như khiển trách, cảnh cáo … TT HĐND, Ban của HĐND không có
quyền áp dụng chế tài mạnh mẽ mà chỉ dừng ở kiến nghị, đề xuất. Nhìn chung, hậu quả pháp lý
mà chủ thể tiến hành giám sát được quyền áp dụng còn đơn giản, nhiều hoạt động giám sát
không bắt buộc phải áp dụng hậu quả pháp lý.
Quy định của pháp luật về giám sát của Hội đồng nhân dân ở những đơn vị hành chính
không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, huyện, phường
Theo mô hình tổ chức thí điểm, Luận án chỉ ra những điểm chưa hợp lý của quy định
của UBTVQH với từng hình thức: đối với việc xem xét báo cáo công tác và bỏ phiếu tín nhiệm,
việc xem xét việc chất vấn và trả lời chất vấn, xem xét VBQPPL và xem xét báo cáo của đoàn
giám sát. khó khả thi vì đối tượng quá lớn khi giám sát cả UBND, TAND, VKSND huyện, quận.
Chưa có quy định HĐND cấp nào giám sát UBND phường.
3.3 Những vấn đề bất cập trong quá trình thực thi pháp luật hoạt động giám sát
của Hội đồng nhân dân
Luận án trình bày sơ qua về thực trạng hoạt động giám sát của HĐND trước Luật tổ chức
HĐND và UBND năm 2003 là chưa đáp ứng được yêu cầu của cử tri, chưa thể hiện được đúng vai
trò của HĐND.
Bất cập trong việc Hội đồng nhân dân thực hiện giám sát theo Luật tổ chức Hội đồng nhân dân
và Ủy ban nhân dân năm 2003
Luận án đánh giá thực trạng hoạt động giám sát của HĐND theo các hình thức giám
sát: Hoạt động HĐND xem xét báo cáo công tác: Báo cáo công tác của HĐND hầu như không
được xem xét, mục đích xem xét báo cáo công tác của TAND, VKSND chưa rõ ràng. Hoạt động
xem xét báo cáo công tác chưa được coi trọng. Hoạt động HĐND, TT HĐND xem xét việc chất
vấn và trả lời chất vấn: đạt nhiều kết quả bề nổi về số lượng chất vấn, nhưng chất lượng chất vấn
và chất lượng trả lời chất vấn chưa được cao, còn nhiều nguyên nhân cản trở việc chất vấn đạt
hiệu quả. Hoạt động HĐND, TT HĐND, Ban xem xét văn bản quy phạm pháp luật, chưa đạt kết
quả cao do thiếu quy trình, năng lực cán bộ ….Hoạt động HĐND, TT HĐND, Ban xem xét báo
cáo của Đoàn giám sát. Phần lớn hoạt động này chỉ dừng ở bước đầu tiên là hoạt động giám sát
của Đoàn giám sát, còn hai bước ít khi được thực hiện là: Cơ quan thành lập Đoàn giám sát xem
xét báo cáo của Đoàn giám sát. Hoạt động HĐND bỏ phiếu tín nhiệm, chưa được thực hiện do
những khó khăn từ luật pháp và tâm lý, cơ chế.
Bất cập trong việc Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Hội đồng nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh
ở những nơi thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường thực hiện giám sát.
Luận án phân tích những khó khăn, những vướng mắc trong thực tiễn thi hành nghị
quyết 725 của UBTVQH trong việc HĐND cấp tỉnh giám sát các cơ quan ở huyện, quận. Hầu
như việc giám sát chỉ dừng ở xem xét báo cáo công tác gián tiếp (thông qua báo công tác của
UBND, TAND, VKSND cấp tỉnh), thành lập Đoàn giám sát. Thời gian áp dụng thí điểm chưa
nhiều, báo cáo tổng kết của Bộ Nội vụ cũng chưa đi sâu đánh giá hoạt động giám sát của HĐND,
vì vậy, cơ sở để đánh giá HĐND ở những nơi thực hiện thí điểm chưa thật đầy đủ.
Nguyên nhân thực trạng hoạt động thực thi pháp luật giám sát của Hội đồng nhân dân
Luận án phân tích 5 nguyên nhân ảnh hưởng tới thực trạng hoạt động giám sát là: Hệ
thống chính trị:mỗi hệ thống chính trị đều có những khiếm khuyết nhất định, không có một hệ
thống nào là hoàn hảo, nhưng mỗi hệ thống đều có sự phù hợp nhất định. Không ít địa phương
hoạt động giám sát cũng nằm trong sự chỉ đạo quá chặt chẽ của cấp ủy Đảng, nhất là với những
nội dung và đối tượng giám sát mang tính nhạy cảm, áp dụng chế tài mạnh mẽ, đụng chạm tới
quyền hạn của cấp ủy Đảng, đặc biệt là trong công tác cán bộ. Quy định của pháp luật: quy định
về hoạt động giám sát của HĐND trong Luật 2003 là một bước tiến rất lớn nhưng vẫn chưa đáp
ứng được yêu cầu thực tiễn, nhiều quy định vẫn còn hình thức hoặc không đủ mạnh để hoạt động
giám sát của HĐND có hiệu quả, thiếu chế tài đi kèm. Tổ chức của HĐND: Số lượng đại biểu
HĐND hoạt động chuyên trách còn rất ít, chiếm khoảng 5-10% tổng số đại biểu, ở cấp xã chỉ có
1 Phó Chủ tịch hoạt động chuyên trách nên khó đảm đương công việc chung của HĐND. Chất
lượng đại biểu HĐND: còn chưa thực sự đồng đều, không ít đại biểu không có trình độ do vừa
phải đảm bảo trình độ và cơ cấu, thành phần đai biểu. Đối với cấp xã: Hoạt động giám sát của
HĐND cấp xã nhìn chung còn yếu do cơ cấu tổ chức khá đặc thù, không có Ban giúp việc, TT
HĐND gồm 2 người, trình độ chung đại biểu, TT HĐND còn thấp.

CHƢƠNG 4.
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN

4.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật giám sát của Hội đồng nhân dân
Luận án đưa ra 7 quan điểm hoàn thiện pháp luật giám sát của HĐND là:
- Phù hợp định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh Việt Nam.
- Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn.
- Bảo đảm hiệu lực, hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân.
- Tiếp thu có chọn lọc pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước và hoạt động giám sát của
HĐND, kinh nghiệm giám sát của cơ quan dân cử địa phương một số nước trên thế giới.
- Phù hợp với xu hướng phát triển pháp luật hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân
Đảm bảo các nguyên tắc này thì việc hoàn thiện pháp luật về hoạt động giám sát của
HĐND mới có khả năng trên thực tiễn, đáp ứng được yêu cầu của HĐND.
4.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật giám sát của Hội đồng nhân dân.
Luận án đưa ra 3 giải pháp cần tiến hành đồng bộ, đó là:
Hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Trong hoàn thiện hệ thống pháp luật để hoạt động giám sát của HĐND có hiệu lực, hiệu
quả, cần quan tâm tới 2 lĩnh vực, đó là: (1) Xác định vị trí, vai trò giám sát của HĐND trong
Hiến pháp: Cần có quy định thống nhất trong Hiến pháp, không nên quy định quá cụ thể mà chỉ
gồm những vấn đề chung nhất, làm cơ sở cho các văn bản luật quy định cụ thể. (2) Xây dựng một
luật riêng về giám sát của Hội đồng nhân dân: Cần xây dựng một luật riêng về hoạt động giám
sát của HĐND với những quy phạm về giám sát mang tính tổng thể, toàn diện, tương tự như
Luật hoạt động giám sát củ HĐND.
Ban hành Luật hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân
Luận án đề xuất những nội dung cơ bản trong Luật hoạt động giám sát của HĐND trên
các mặt:
Chủ thể tiến hành giám sát. Cần xác định chủ thể là HĐND, TT HĐND, Ban. Xác định
được chủ thể tiến hành giám sát sẽ tìm ra hình thức phù hợp với từng chủ thể.
Đối tượng giám sát, nội dung giám sát. Xác định đối tượng giám sát là cơ quan nhà
nước cùng cấp, trong đó, tập trung vào UBND và cơ quan chuyên môn thuộc UBND. Đối với
TAND, VKSND thì giám sát hạn chế hơn. Xác định rõ đối tượng giám sát và nội dung giám sát
là nội dung quan trọng của Luật, từ đó xác định phạm vi, mức độ giám sát của chủ thể tiến hành
giám sát.
Hình thức giám sát của HĐND với từng đối tượng bị giám sát gồm: hoạt động xem xét
báo cáo công tác; hoạt động xem xét việc chất vấn và trả lời chất vấn; hoạt động xem xét
VBQPPL; hoạt động xem xét báo cáo của Đoàn giám sát; hoạt động bỏ phiếu tín nhiệm. Với mối
chủ thể giám sát sẽ có hình thức giám sát phù hợp.
Hình thức hỗ trợ giám sát của HĐND.Bên cạnh hình thức giám sát, Luận án cũng đề cập
tới hình thức hỗ trợ hoạt động giám sát, đó là: hoạt động điều trần; đoàn giám sát; các hình thức
hỗ trợ khác. Đây là nội dung quan trọng nhưng ngay cả Luật hoạt động giám sát của Quốc hội
cũng chưa đề cập đến.
Hoàn thiện một số quy trình giám sát. Luận án đề xuất hoàn thiện lại một số quy trình
giám sát như: quy trình, thủ tục xem xét báo cáo công tác; quy trình, thủ tục việc xem xét chất
vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp HĐND; quy trình, thủ tục bỏ phiếu tín nhiệm; quy trình, thủ tục
việc xem xét báo cáo của Đoàn giám sát; quy trình xem xét VBQPPL; quy trình, thủ tục hoạt
động điều trần.
Hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát. Hoạt động giám sát mà thiếu hậu quả pháp lý thì
hoạt động giám sát đó không đạt được hiệu quả. Luận án đề xuất bổ xung thêm một số chế tài kỷ
luật mang tính trung gian như khiển trách, … gắn với từng chủ thể giám sát.
Giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Hội đồng nhân dân thị xã, thành phố thuộc
tỉnh khi không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường.
Trên cơ sở thực tiễn việc thí điểm không tổ chức HĐND, Luận án đề xuất quy phạm
pháp luật về giám sát của HĐND ở cấp tỉnh, HĐND thị xã, thành phố thuộc tỉnh khi tiến hành
giám sát. Trong đó, Luận án đề xuất HĐND không nên giám sát toàn bộ cơ quan cấp dưới mà chỉ
nên giám sát người đứng đầu cơ quan hành chính cấp dưới và người đứng đầu này phải được
HĐND phê chuẩn hoặc bổ nhiệm. Với giám sát cơ quan tư pháp, HĐND cũng chỉ dừng ở giám
sát báo cáo công tác mà thôi.
Luận án cũng chỉ ra rằng nếu với mục đích tăng cường hiệu lực, hiệu quả giám sát của
HĐND mà chỉ hoàn thiện pháp luật hoạt động giám sát thì chưa đủ, cần phải có nhiều giải pháp
đồng bộ để pháp luật đi vào cuộc sống. Luận án đề xuất một số giải pháp liên quan tới Luật bầu
cử đại biểu HĐND, Luật tổ chức HĐND và UBND; …

KẾT LUẬN
Xã hội loài người luôn không ngừng phát triển, với nhiều phát minh vĩ đại về khoa học
kỹ thuật, về chính trị …, trong đó “Nhà nước” có thể nói là một bước tiến lớn của loài người.
Nhà nước đi kèm theo đó là quyền lực, lại luôn có xu hướng bị tha hóa, chế ước quyền lực là yếu
tố cơ bản để bộ máy nhà nước tồn tại ổn định.
Trong xã hội dân sự, nhà nước pháp quyền thì việc kiểm soát quyền lực càng được đặt
ra, nhất là việc nhân dân trực tiếp kiểm soát và gián tiếp thông qua cơ quan dân cử. Trong bộ
máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hình thành cơ quan dân cử mà ở trung ương
là Quốc hội, ở địa phương là HĐND các cấp. HĐND vừa nằm trong bộ máy cơ quan nhà nước,
chịu sự chỉ đạo, điều hành hạn chế của Chính phủ vừa thay mặt người dân trong hoạt động.
HĐND sử dụng hình thức giám sát để kiểm soát quyền lực nhà nước được thực thi đúng, đủ, với
mục đích đảm bảo cho người dân ở địa phương mình.
Hơn 7 năm thực thi hoạt động giám sát, cả xã hội cũng như bản thân HĐND có sự biến
chuyển lớn. Đó là xã hội dân chủ phát triển mạnh mẽ, tư tưởng về xây dựng bộ máy nhà nước
cũng dần thay đổi theo hướng nhà nước dân chủ, nhà nước pháp quyền, vị trí và vai trò của
HĐND cũng dần được thừa nhận. Để HĐND thực hiện được quyền giám sát của mình có hiệu
lực, hiệu quả phải dựa vào nhiều yếu tố, nhưng một trong những yếu tố quan trọng là luật pháp.
Chính vì vậy, trong định hướng xây dựng pháp luật của nhà nước ta, việc sửa đổi, bổ
sung quy định của pháp luật về hoạt động giám sát của HĐND là cực kỳ cần thiết. Đảm bảo thúc
đẩy HĐND hoạt động tốt, là tiền đề để nhân dân sử dụng quyền lực của mình dẫn dắt chính
quyền địa phương phục vụ lợi ích của nhân dân, đảm bảo lợi ích của nhân dân.
Luận án trên cơ sở phân tích hệ thống pháp luật, thực trạng thực hiện hoạt động giám sát
của HĐND và các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động giám sát để đề xuất hoàn thiện pháp luật hoạt
động giám sát của HĐND trên các mặt: hoàn thiện hệ thống pháp luật về giám sát nói chung;
hoàn thiện pháp luật liên quan tới tổ chức HĐND; xây dựng Luật hoạt động giám sát của HĐND
với quan điểm mới về chủ thể giám sát, đối tượng bị giám sát, nội dung bị giám sát, hình thức
tiến hành giám sát, hậu quả pháp lý mà HĐND có quyền áp dụng.
Đây chính là những vấn đề chính Luận án hướng tới nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt
động giám sát của HĐND, đảm bảo để HĐND thực sự là cơ quan nhà nước đại diện của người
dân, mang tiếng nói, lợi ích, nguyện vọng của người dân, hướng tới người dân.


DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC
CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1. Nguyễn Hải Long (2009), “Vấn đề pháp lý, cách thức tiến hành hoạt động chất vấn và
điều trần ở Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội”, Hội thảo Thực trạng và giải pháp nâng cao
chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội tại Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ
Chí Minh tháng 3 năm 2009 do Văn phòng Quốc hội tổ chức tr.14.
2. Nguyễn Hải Long (2010), “Bàn về quy định HĐND bỏ phiếu tín nhiệm”, Tạp chí
Khoa học pháp lý (2), tr. 13-19.
3. Nguyễn Hải Long (2010), “Về giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đối với chính
quyền quận, huyện nơi thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước (5),
tr. 23-28.
4. Nguyễn Hải Long (2010), “Giám sát của Hội đồng nhân dân ở nơi thực hiện thí điểm
không tổ chức Hội đồng nhân dân”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp (20), tr. 50-56.
5. Nguyễn Hải Long (2010), “Bàn về đối tượng giám sát của Hội đồng nhân dân”, Tạp
chí nhà nước và pháp luật (11), tr. 16-22 và 27.

References

Tiếng Việt
1. Ban Công tác đại biểu thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội (2005), kỷ yếu Hội nghị Thường
trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương các khu vực trên toàn
quốc, Hà Nội.
2. Ban Công tác đại biểu thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội (2006), kỷ yếu Hội nghị Thường
trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương các khu vực trên toàn
quốc, Hà Nội.
3. Ban Công tác đại biểu thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội (2007), kỷ yếu Hội nghị Thường
trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương các khu vực trên toàn
quốc, Hà Nội.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét