Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2014

Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong việc xây dựng nền kinh tế ở nước ta hiện nay

TiÓu luËn triÕt häc
hình thức vận động khác ,trong đó vận động cao bao gồm vận thấp nhưng
không thể coi hình thưc vận cao là tổng số đơn giản các hình thức vận động
thấp.
Thế giới khách quan bao giờ cũng tồn tại không ngừng không thể có
vật chất không vận động ,tức vật chất tồn tại .Vật chất thông qua vận động
mà biểu hiện sự tồn tại của mình .Ăngghen nhận định rằng các hình thức và
các dạng khác nhau của vật chất ,chỉ có thể nhận thức được thông qua vận
động mới có thể thấy được thuộc tính của nó .Trong thế giới vật chất từ các
hạt cơ bản trong vi mô trong hệ thống hành tinh khổng lồ.
Bất cứ một dạng vật chất nào cũng là một thể thống nhất có kết cấu xác
định gồm những bộ phận nhân tố khác nhau ,cùng tồn tại ảnh hưởng và tác
động lẫn nhau gây ra nhiều biến đổi .Nguồn gốc vận động do những
nguyên nhân bên trong ,vận động vật chất là tự thân vận động.
Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất ,không thể có vận động bên
ngoài vật chất .Nó không do ai sáng tạo ra và không thể tiêu diệt được do
đó nó dược bảo toàn cả số lượng lẫn chất lượng.Khoa học đã chứng minh
rằng nếu một hình thức vận động nào dó của sự vật mất đi thì tất yếu nó
nảy sinh một hình thức vận động khác thay thế .Các hình thức vận động
chuyển hoá lẫn nhau còn vận động của vật chất thì vĩnh viễn tồn tại.
Mặc dù vận động luôn ở trong quá trình không ngừng ,nhưng điều đó
không loại trừ mà còn bao hàm cả hiện tượng đứng im tương đối ,không có
nó thì không có sự phân hoá thế giới vật chất thành các sự vật ,hiện tượng
phong phú và đa dạng .Ăngghen khẳng định rằng khả năng đứng im tượng
đối của các vật thể ,khả năng cân bằng tạm thời là những điều kiện chủ yếu
của sự phân hoá vật chất. Nếu vận động là biến đổi của các sự vật hiện
tượng thì đứng im là sự ổn định ,là sự bảo toàn tính quy định sự vật hiện
tượng .Đứng im chỉ một trạng thái vận động ,vận động trong thăng bằng
,trong sự ổn định tương đối .Trạng thái đứng im còn được biểu hiện như là
5
TiÓu luËn triÕt häc
một quá trình vận động trong phạm vi sự vật ổn định ,chưa biến đổi ,chỉ là
tạm thời vì nó chỉ xẩy ra trong một thời gian nhất định .Vận động riêng biệt
có xu hương phá hoại sự cân bằng còn vận động toàn thể lại phá hoại sự
cân bằng riêng biệt làm cho các sự vật luôn biến đổi ,chuyển hoá nhau .
*Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất
Không gian phản ánh thuộc tính của các đối tượng vật chất có vị trí ,có
hình thức kết cấu ,có độ dài ngắn cao thấp .Không gian biểu hiện sự tồn tại
và tách biệt của các sự vật với nhau ,biểu hiện qua tính chất và trật tự của
chúng Còn thời gian phản ánh thuộc tính của các qúa trình vật chất diễn ra
nhanh hay chậm ,kế tiếp nhau theo một trình tự nhất định .Thời gian biểu
hiện trình độ tốc độ của quá trình vật chất ,tính tách biệt giữa các giai đoạn
khác nhau của qúa trình đó ,trình tự xuất hiện và mất đi của các sự vật hiện
tượng.
Không gian và thời gian là những hình thức cơ bản của vật chất đang
vận động ,Lênin đã chỉ ra trong thế giới không có gì ngoài vật chất đang
vận động .Không gian và thời gian tồn tại khách quan ,nó không phải bất
biến ,không thể đứng ngoài vật chất ,không có không gian trống rỗng ,mà
nó có sự biến đổi phụ thuộc vào vật chất vận động .
• Tính thống nhất vật chất của thế giới
CNDT coi ý thức,tinh thần có trước ,quyết đinh vật chất ,còn duy vật
thì ngược lại .Triết học Mác-Lênin khẳng định rằng chỉ có một thế giới duy
nhất là thế giới vật chất đồng thời còn khẳng định rằng thế giới đều là
những dạng cụ thể của vật chất ,có liên hệ vật chất thống nhất với nhau
như liên hệ về cơ cấu tổ chức ,lịch sử phát triển và đều phải tuân thủ theo
quy luật khách quan của thế giới vật chất ,do đó nó tồn tại vĩnh cửu ,không
do a sinh ra và cũng không mất đi trong thế giới đó ,không có gì khác ngoài
những quá trình vật chất đang biến đổi là chuyển hoá lẫn nhau ,là nguyên
nhân và kết quả của nhau.
6
TiÓu luËn triÕt häc
2. ý thức
a. kết cấu của ý thức
Cũng như vật chất có rất nhiều quan niệm về ý thưc theo các trường
phái khác nhau . Theo quan điểm của CNDVBC khẳng định rằng ý thức là
đặc tính và là sản phẩm của vật chất ,là sự phản ánh khách quan vào bộ óc
con người thông qua lao động và ngôn ngữ .Mác nhấn mạnh rằng tinh thần
ý thức là chẳng qua chỉ là cái vật chất được di chuyển vào bộ óc con người
và được cải biến trong đó .ý thức là một hiện tượng tâm lý xã hội có kết
cấu phức tạp gồm ý thức tri thức ,tình cảm ,ý chí trong đó tri thức là quan
trọng nhất ,là phương thức tồn tại của ý thức,vì sự hình thành và phát triển
của ý thức có liên quan mật thiết với quá trình con người nhận thức và cải
biến giới tự nhiên.Tri thức càng được tích luỹ con người càng đi sâu vào
bản chất của sự vật và cải tạo sự vật có hiệu quả hơn ,tính năng động của ý
thức nhờ đó mà tăng hơn .Việc nhấn mạnh tri thức là yếu tố cơ bản quan
trọng có ý nghĩa chống quan điểm đơn giản coi ý thức là tình cảm ,niềm tin
…Quan điểm đó chính là bệnh chủ quan duy ý chí của niềm tin mù
quáng .Tuy nhiên việc nhấn mạnh yếu tố tri thức cũng không đồng nghĩa
với việc phủ nhận coi nhẹ yếu tố vai trò tình cảm ý chí.
Tự ý thức cũng là một yếu tố quan trọng mà CNDT coi nó là một thực
thể độc lập có sẵn trong cá nhân ,biểu hiện xu hướng về bản thân mình ,tự
khẳng định cái tôi riêng biệt tách rời xã hội .Trái lại CNDVBC tự ý thức là
ý thức hướng về nhận thức bản thân mình thông qua quan hệ với thế giới
bên ngoài .Khi phản ánh thế giới khách quan con người tự phân biệt
mình ,đối lập mình với thế giới đó là sự nhận thức mình như là một thực
thể vận động ,có cảm giác ,tư duy có các hành vi đạo đức và vị trí xã
hội .Mặt khác sự giao tiếp xã hội và hoạt động thực tiễn xã hội đòi hỏi con
người nhận rõ bản thân mình và tự điều chỉnh theo các quy tắc tiêu chuẩn
7
TiÓu luËn triÕt häc
mà xã hội đề ra .Ngoài ra văn hoá cũng đóng vai trò cái gương soi giúp cho
con người tự ý thức bản thân .
Vô thức là một hiện tượng tâm lý ,nhưng có liên quan đến hoạt động
xảy ra ở ngoài phạm vi của ý thức .Có 2 loại vô thức: loại thứ nhất liên
quan đến các hành vi chưa được con người ý thức ,loại thứ hai liên quan
đến các hành vi trước kia đã được ý thức nhưng do lặp lại nên trở thàmh
thói quen ,có thể diễn ra tự động bên ngoài sự chỉ đạo của ý thức.Vô thức
ảnh hưởng đến nhiều phạm vi hoạt động của con người .Trong những hoàn
cảnh đó nó có thể giúp con người giảm bớt sự căng thẳng trong hoạt
động .Việc tăng cường rèn luyện để biến thành hành vi tích cực thành thói
quen ,có vai trò quan trọng trong đời sống .
b. Nguồn gốc của ý thức
• Nguồn gốc tự nhiên
ý thức ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên cho
tới khi xuất hiện con người và bộ óc .Khoa học chứng minh rằng thế giới
vật chất nói chung và trái đất nói riêng đã từng tồn tại rất lâu trước khi xuất
hiện con người ,rằng hoạt động ý thức của con người diễn ra trên cơ sở
hoạt động sinh lý thần kinh bộ não người .Không thể tách rời ý thức ra khỏi
bộ não vì ý thức là chức năng bộ não ,bộ não là khí quản của ý thức .Sự
phụ thuộc ý thức vào hoạt động bộ não thể hiện khi bộ não bị tổn thương
thì hoạt động ý thức sẽ bị rối loạn .Tuy nhiên không thể quy một cách đơn
giản ý thức về quá trình sinh lý bởi vì óc chỉ là cơ quan phản ánh .Sự xuất
hiện của ý thức gắn liền sự phát triển đặc tính phản ánh ,nó phát triển cùng
với sự phát triển của tự nhiên .Sự xuất hiện của xã hộ loài người đưa lại
hình thức cao nhất của sự phản ánh ,đó là sự phản ánh ý thức luôn gắn liền
với việc làm cho tự nhiên thích nghi với nhu cầu phát triển của xã hội.
• Nguồn gốc xã hội
8
TiÓu luËn triÕt häc
Sự ra đời của ý thức gắn liền hình thành với sự phát triển của bộ óc con
người dưới ảnh hưởng của lao động và giao tiếp QHXH.
Lao động của con người là nguồn gốc vật chất có tính xã hội nhằm cải
tạo tự nhiên ,thoả mãn nhu cầu và phục vụ mục đích bản thân con người
.Nhờ nó mà con người và xã hội loài người mới hình thành và phát triển
.Lao động là phương thức tồn tại cơ bản đầu tiên của con người ,đồng thời
ngay từ đầu đã liên kết con người với nhau trong mối quan hệ khách quan
,tất yếu ; mối quan hệ này đến lượt nó nảy sinh nhu cầu trao đổi kinh
nghiệm và tổ chức lao động ,nhu cầu"cần phải nói với nhau một cái gì". Và
kết quả là ngôn ngữ ra đời.Ngôn ngữ được coi là cái vỏ vật chất của tư
duy ,với sự xuất hiện của ngôn ngữ ,tư tưởng con người có khả năng biểu
hiện thành hiện thực trực tiếp ,trở thành tín hiệu vật chất tác động tới giác
quan của con người và gây ra cảm giác .Nhờ có nó mà con người có thể
giao tiếp ,trao đổi ,truyền đạt kinh nghiệm cho nhau ,thông qua đó mà ý
thức cá nhân trở thành ý thức xã hội ,và ngược lại. Chính nhờ trừu tượng
hoá và khái quát hoá tức là quá trình hình thành thực hiện ý thức ,chính nhờ
nó mà con người có thể đi sâu vào bản chất của sự vật ,hiện tượng đồng
thời tổng kết hoạt động của mình trong toàn bộ quá trình phát triển lịch sử.
C. Bản chất của ý thức
Từ việc xem xét nguồn gốc của ý thức ,có thể thấy rõ ý thức có bản tính
phản ánh ,sáng tạo và bản tính xã hội .
Bản tính phản ánh thể hiện về thế giới thông tin bên ngoài ,là biểu thị
nội dung được từ vật gây tác động và được truyền đi trong quá trình phản
ánh . Bản tính của nó quy đinh mặt khách quan của ý thức, tức là phải lấy
kháh quan làm tiền đề ,bị nó quy định nội dung phản ánh là thế giới khách
quan.
ý thức ngay từ đầu đã gắn liền với lao động ,trong hoạt động sáng tạo
cải biến và thống trị tự nhiên của con người và đã trở thành mặt không thể
9
TiÓu luËn triÕt häc
thiếu của hoạt động đó .Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ở chỗ nó không
chụp lại một cách thụ động nguyên xi mà gắn liền với cải biến ,quá trình
thu nhập thông tin gắn liền với quá trình xử lý thông tin .Tính sáng tạo của
ý thức còn thể hiện ở khả năng gián tiếp kháI quát thế giới khách quan ở
quá trình chủ động ,tác động vào thế giới đó.
Phản ánh và sáng tạo liên quan chặt chẽ với nhau ,không thể tách rời
,không có phản ánh thì không có sáng tạo vì phản ánh là điểm xuất phát là
cơ sở của sáng tạo .Đó là MQHBC giữa thu nhận xử lý thông tin ,là sự
thống nhất mặt khách quan chủ quan của ý thức.
ý thức chỉ được nảy sinh trong lao động ,hoạt động cải tạo thế giới của
con người.Hoạt động đó không thể là hoạt động đơn lẻ mà là hoạt động xã
hội. ý thức trước hết là thức của con người về xã hội và hoàn cảnh và
những gì đang diễn ra ở thế giới khách quan về mối liên hệ giữa người và
người trong quan hệ xã hội.Do đó ý thức xã hội hình thành và bị chi phối
bởi tồn tại xã hội và các quy luật của tồn tại xã hội đó …ý thức của mỗi cá
nhân mang trong lòng nó ý thức xã hội ,Bản tính xã hội của ý thức cũng
thống nhất với bản tính phản ánh trong sáng tạo.Sự thống nhất đó thể hiện
ở tính năng động chủ quan của ý thức ,ở qaun hệ giữa nhân tố vật chất và
nhân tố ý thức trong hoạt động cải tạo thế giới quan của con người.
3. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
Lênin đã chỉ ra rằng,sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa
tuyệt đối trong phạm vi hạn chế:trong trường hợp này chỉ giới hạn trong
vấn đề nhận thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì là cái có trước ,cái gì là
cái có sau . Ngoài giới hạn đó thì không còn nghi ngờ gì nữa rằng sự đối
lập đó chỉ là tương đối .Như vậy để phân ranh giới giữa CNDV và
CNDT ,để xác định bản tính và sự thống nhất của thế giới cần có sự đối lập
tuyệt đối giữa vật chất và ý thức trong khi trả lời cái nào có trước cái nào
quyết định .Không như vậy sẽ lẫn lộn 2 đường lối cơ bản trong triết học
10
TiÓu luËn triÕt häc
,lẫn giữa vật chất và ý thức và cuối cùng sẽ xa rời quan điểm duy vật .Song
sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ là sự tương đối như là những nhân
tố ,những mặt không thể thiếu được trong hoạt động của con người ,đặc
biệt là hoạt động thực tiễn con người ,ý thức có thức có thể cải biến được tự
nhiên ,thâm nhập vào sự vật , không có khả năng tự biến thành hiện
thực,nhưng thông qua hoạt động thực tiễn của con người,ý thức có thể cải
tiến được ,thâm nhập vào sự vật ,hiện thực hoá những mục đích mà nó đề
ra cho hoạt động của mình.Điều này bắt nguồn từ chính ngay bản tính phản
ánh,sáng tạo và xã hội của ý thức và chính nhờ bản tính đó mà chỉ có con
người có ý thức mới có khả năng cải biến và thống trị tự nhiên ,bắt nó phục
vụ con người. Như vậy tính tương đối trong sự đối lập giữa vật chất và ý
thức thể hiện ở tính độc lập tương đôí,tính năng động của ý thức. Mặt khác
đời sống con người là sự thống nhất không thể tách rời giữa đời sống vật
chất và đời sôngs tinh thần trong đó những nhu cầu tinh thần ngày càng
phong phú và đa dạng và những nhu cầu vật chất cũng bị tinh thần
hoá.Khẳng định tính tương đối của sự đối lập giữa vật chất và ý thức không
có nghĩa là khẳng định cả hai yếu tố có vai trò như nhau trong đời sống và
hoạt động của con người .Trái lại, Triết học Mác-Lênin khẳng định
rằng,trong hoạt động của con người những nhân tố vật chất và ý thức có tác
động qua lại ,song sự tác động đó diễn ra trên cơ sở tính thứ nhất của nhân
tố vật chất so với tính thứ hai cuả ý thức.
Trong hoạt động của con người ,những nhu cầu vật chất xét đến cùng
bao giờ cũng giữ vai trò quyết định ,chi phối và quy định mục đích hoạt
động của con người vì nhân tố vật chất quy định khả năng các nhân tố tinh
thần có thể tham gia vào hoạt động của con người, tạo đIều kiện cho nhân
tố tinh thần hoặc nhân tố tinh thần khác biến thành hiện thực và qua đó quy
định mục đích chủ trương biện pháp mà con người đề ra cho hoạt động của
mình bằng cách chọn lọc, sữa chữa bổ bổ sung cụ thể hoá mục đích chủ
trương biện pháp đó . Hoạt động nhận thức của con người bao giờ cũng
11
TiÓu luËn triÕt häc
hướng đến mục tiêu cải biến tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu sống . Hơn
nữa,cuộc sống tinh thần của con người xét đến cùng bị chi phối và phụ
thuộc vào việc thoả mãn nhu cầu vật chất và vào những điều kiện vật chất
hiện có .khẳng định vai trò cơ sở ,quyết định trực tiếp nhân tố vật chất, triết
học Mác-Lênin đồng thời cũng không coi nhẹ vai trò của nhân tố tinh
thần ,tính năng động chủ quan. Nhân tố ý thức có tác động trở lại quan
trọng đối với nhân tố vật chất. Hơn nữa ,trong hoạt động của mình ,con
người không thể tạo ra các đối tượng vật chất ,cũng không thể thay đổi
được những quy luật vận động của nó . Do đó ,trong quá trình hoạt động
của mình con người phải tuân theo quy luật khách quan và chỉ có thể đề ra
những mục đích,chủ trương trong phạm vi vật chất cho phép .
II. Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong việc xây
dựng nền kinh tế nước ta hiện nay .
1.Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào mối quan hệ biện
chứng giữa kinh tế và chính trị :
Như chúng ta đã biết, giữa vật chất và ý thức có mối quan hệ biện
chứng lẫn nhau .Nhân tố vật chất giữ vai trò quyết định còn nhân tố ý thức
có tác động trở lại nhân tố ý thức. Nhân tố vật chất trong nhiều trường hợp
ý thức có tác dụng quyết định đến sự thành bại của con người.Điều này thể
hiện rõ trong các đường lối chủ trường,chính sách đổi mới kinh tế của
Đảng .Vai trò tích cực của ý thức chỉ được trong một thời gian nhất định và
điều kiện cụ thể vì thế giới vẫn tồn tại khách quan và vận động ,theo đó ý
thức phải biến đổi phù hợp với nó ,nếu tiêu cực thì sớm muộn cũng bị đào
thải ,nhưng xét đén cùng thì ý thức vẫn là nhân tố thứ hai quyết định .Và ta
thấy nếu kinh tế của một nước giàu ,xã hội phát triển cao nhưng chính trị
mất ổn định ,luôn đấu tranh giai cấp …thì đất nước đó không thể yên ấm
hoà bình được và cuộc sống người dân tuy đầy đủ ,sung túc nhưng sẽ luôn
12
TiÓu luËn triÕt häc
lo âu .Do đó nếu chính trị ổn định thì dân mới yên tâm làm ăn và xây dựng
một xã hội phát triển ,đất nước giàu mạnh.
Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị thay đổi theo từng hình thái kinh
tế CXNT-CHNL-PK-TBCN-CNXH .Trình độ tổ tổ chức quản lý và tính
chất hiện đại của nền sản xuất sẽ là nhân tố quy định trình độ và mức sống
của xã hội ,bởi sản xuất vật chất là nền tảng hình thành tất cả các quan hệ
xã hội đời sống tinh thần của xã hội .hiện thực lịch sử đã chỉ ra rằng mọi
quan hệ của đời sống xã hội bao gồm quan hệ chính trị ,nhà nước pháp
quyền,đạo đức ,khoa học ,tôn giáo…đều hình thành biến đổi gắn liền với
kinh tế và sản xuất nhất định .Trong đó theo Mác quan hệ sản xuất giữa
người với người là cơ bản quyết định tất cả các quan hệ khác .
Sản xuất vật chất hay kinh tế là cơ sở đầu tiên quan trọng nhất khi tham
gia vào quá trình phân hoá và hoàn thiện các chức năng của con người
,thoả mãn các nhu cầu của con người và xã hội . Sản xuất vật chất môi
trường tự nhiên ,điều kiện xã hội…đòi hỏi thể lực ,trí tuệ và nhân cách con
người phải phát triển thích ứng với nó .Yêu cầu khách quan của việc phát
triển kinh tế ,sản xuất cho khoa học kĩ thuật và điều kiện sinh hoạt xã hội
ngày càng phát triển hoàn thiện .Đó chính là cơ sở quyết định sự hoàn thiện
của con người ,chính trị ,xã hội ,là nhân tố qaun trọng hàng đầu của
LLSX .Sự phong phú đa dạng của vật chất sự phát triển mạnh mẽ của khoa
học kĩ thuật và đời sống tinh thần trong quá trình sản xuất là cơ sở nảy sinh
sự phát triển năng lực tinh thần của con người .Nói cho cùng nhu cầu của
con người về vật chất bao giờ cũng giữ vai trò quyết định vì con người
trước hết phải ăn mặc ,ở rồi đến vui chơi giải trí .Hoạt động nhận thức của
con người trước hết hướng tới mục tiêu cải biến tự nhiên nhằm thoả mãn
nhu cầu sống và cuộc sống của con nguươì phụ thuộc vào nhu cầu vật chất
và những điều kiện hiện có.
13
TiÓu luËn triÕt häc
Nền kinh tế của một nước là nền tảng để cho nước đó tiếp tục phát triển
các chủ trương biện pháp trong việc phát triển kinh tế vào công cuộc bảo vệ
xây dựng đất nước .Căn cứ vào tình hình kinh tế mà có những chính sách
phù hợp nhằm đem lại lợi ích cao cho xã hội và cho nhân dân .Tác dụng
ngược lại thể chế chính trị ,ý thức của một nước rất quan trọng trong việc
xây dựng đất nước. Chính trị ổn định chính là điều kiện phát triển kinh
tế ,mọi doanh nghiệp cũng như nhân dân ,các công ty các tổ chức đem hết
sức mình tạo lợi ích cho bản thân và xã hội.
Nguyên lý triết học Mác-Lênin về mối QHBC giữa vật chất và ý thức
đòi hỏi chúng ta phải xem xét các sự vật từ thực tế khách
quan ,tránh chủ nghĩa chủ quan duy ý chí,đồng thời phát huy vai trò năng
động sáng tạo của ý thức ,phát huy nỗ lực chủ quan và hoạt động của con
người .
2.Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức rtong việc xây dựng
nền kinh tế mới ở nước ta hiện nay.
Như chúng ta đã biết sau khi giải phóng miền nam thống nhất đất
nước ,nền kinh tế miến bắc bị suy giảm nghiêm trọng.Cơ sở vật chất kĩ
thuật yếu kém,cơ cấu kinh tế mất cân đối ,năng suất lao động thấp…sản
xuất nông nghiệp chưa cung cấp đủ lương thực cho dân ,nguyên liệu cho
công nghiệp ,hàng hoá cho xuất khẩu ,ngoài ra còn bị tàn phá nặng nề bởi
đế quốc Mĩ .ở miền nam sau 20 năm chiến tranh nền kinh tế bị đảo lộn
,nông nghiệp bị hoang hoá ở nhiều vùng…
Trước tình hình đó đại hội Đảng ta lần thứ IV đã đề ra chỉ tiêu và kế
hoạch 5 năm 1976-1980 về xây dựng và phát triển vượt quá khả năng kinh
tế 1975 phấn đấu dạt 21tr tấn lương thực 1tr tấn cá biển ,1tr ha khai hoang ,
1tr200ha rừng mới 10tr tấn than sạch …ngoài ra còn đề xuất xây dựng
thêm các cơ sở mới về công nghiệp như cơ khí và đặc biệt là phải cải tạo
XHCN ở miền nam .Những chủ trương chính sách sai lầm đó đã gây tổn
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét