Thứ Hai, 10 tháng 3, 2014
7 Chuyên Đề, Ôn thi Chuyên viên chính năm 2013 - Phần Kiến Thức Chung
+ Một số tổ chức cơ sở đảng có vị trí quan trọng, đông đảng viên, nhiều tổ
chức đảng trực thuộc, được giao một số quyền của cấp trên cơ sở.
+ Một số đảng bộ cơ sở có vị trí quan trọng.
- Các tổ chức cơ sở đảng trực thuộc cấp uỷ cấp trên trực tiếp của cơ sở
gồm : các đảng bộ, chi bộ cơ sở xã, phường, thị trấn, cơ quan, doanh nghiệp,
đơn vị sự nghiệp, lực lượng vũ trang .v.v.
Trực thuộc đảng uỷ cơ sở có các đảng bộ bộ phận (nơi có đông đảng
viên); chi bộ trực thuộc; tổ đảng (ở nơi thành lập chi bộ cơ sở). Đây không phải
là một cấp.
1.2. Đại hội và hệ thống cấp uỷ
Điều lệ Đảng quy định : Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội
đại biểu toàn quốc. Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc đại hội
đảng viên. Giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo của Đảng là Ban Chấp hành
Trung ương, ở mỗi cấp là ban chấp hành đảng bộ, ban chấp hành chi bộ (gọi tắt
là cấp uỷ).
Nhiệm kỳ đại hội của tổ chức cơ sở đảng trở lên là 5 năm/1 lần. Nhiệm kỳ
của chi bộ trực thuộc đảng uỷ cơ sở là 5 năm /2 lần.
Gắn với hệ thống tổ chức đảng là hệ thống cấp uỷ đảng các cấp. Cấp uỷ
các cấp là cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, chấp hành giữa hai kỳ đại hội
đảng bộ các cấp.
Số lượng Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương do Đại hội Đảng toàn quốc
quyết định, số lượng cấp uỷ viên mỗi cấp do đại hội cấp đó quyết định trên cơ sở
hướng dẫn của Trung ương. Hệ thống cấp uỷ đảng do đại hội các cấp bầu,
trường hợp thật đặc biệt do cấp uỷ cấp trên trực tiếp chỉ định.
1.3. Ban cán sự đảng, đảng đoàn
Thực hiện theo Điều 42, Điều 43 Điều lệ Đảng. Ban Cán sự đảng được
lập ở một số cơ quan hành pháp, tư pháp cấp Trung ương, cấp tỉnh. Đảng đoàn
được lập ở một số cơ quan lãnh đạo Nhà nước (do bầu cử) và một số tổ chức
chính trị - xã hội cấp Trung ương, cấp tỉnh.
1.4. Hệ thống cơ quan tham mưu giúp việc, đơn vị sự nghiệp của cấp uỷ
Theo quy định của Điều lệ Đảng “Cấp uỷ mỗi cấp lập các cơ quan tham
mưu giúp việc theo hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương”.
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII và khi thực hiện nghị quyết
Trung ương 7 (khoá VIII) và NQTW 4 khoá X vừa qua, hệ thống cơ quan tham
mưu giúp việc được tổ chức lại gọn hơn, đến nay đầu mối tổ chức các ban và cơ
quan Đảng đã được tinh giản đáng kể so với thời kỳ trước đổi mới. Ở cấp Trung
ương, từ 24 đầu mối (16 ban, văn phòng và 8 đơn vị sự nghiệp), nay còn 6 ban
(Ban Tổ chức TW, Ban Tuyên giáo TW, Ban Dân vận TW, Uỷ ban Kiểm tra
TW, Ban Đối ngoại TW, Văn phòng TW) và 4 đơn vị sự nghiệp (Báo Nhân dân,
Tạp chí Cộng sản, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Học viện Chính trị - Hành
chính quốc gia Hôc Chí Minh). Ở cấp tỉnh từ 12 - 15 đầu mối nay còn 7 đầu mối
(5 ban và 2 đơn vị sự nghiệp). Ở cấp huyện còn từ 5 - 6 đầu mối (5 ban và trung
tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện).
2. Tổ chức nhà nước
Tổ chức bộ máy Nhà nước bao gồm : Quốc hội (cơ quan lập pháp) và hội
đồng nhân dân các cấp; Chủ tịch nước (là nguyên thủ quốc gia, Chủ tịch Hội đồng
Quốc phòng an ninh và thực thi các nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp);
Chính phủ và uỷ ban nhân dân các cấp (cơ quan hành chính nhà nước), Viện
Kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân, cơ quan điều tra các cấp (cơ quan tư pháp).
2.1. Tổ chức của Quốc hội
Quốc hội do dân bầu, thực hiện nhiệm kỳ đại biểu 5 năm. Quốc hội lập ra
các Uỷ ban, các Ban có bộ phận chuyên trách ở Trung ương; ở địa phương có
các đoàn đại biểu, chuyên trách địa phương.
Quốc hội có sự đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động, tăng
cường việc xây dựng và ban hành các bộ luật, luật, pháp lệnh, thể chế hoá đường
lối, chủ trương của Đảng, cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp, quan hệ phối
hợp giữa Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội với Chủ tịch nước, Chính phủ,
Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, hình thành cơ chế tiếp xúc giữa đại biểu Quốc hội với cử tri, dân chủ trong
sinh hoạt Quốc hội, tăng cường chất vấn công khai tại Quốc hội, bảo đảm vai trò
lãnh đạo của Đảng thông qua Đảng đoàn Quốc hội.
2.2. Chủ tịch nước
Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Chủ tịch nước là đại biểu Quốc
hội, do Quốc hội bầu; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội. Chủ
tịch nước ban hành lệnh, quyết định để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình
(theo Chương VII, Hiến pháp 1992) và tổ chức bộ máy chuyên trách giúp việc
theo quy định của pháp luật.
2.3. Chính phủ và các cơ quan hành chính nhà nước
Tổ chức bộ máy của Chính phủ, cơ quan hành chính nhà nước đã tinh
giản hơn so với năm 1986. Ở cấp Trung ương, trước 1/8/2007 tổng số đầu mối
các cơ quan thuộc Chính phủ đã giảm từ 76 xuống còn 38 (26 bộ, cơ quan ngang
bộ và 12 cơ quan thuộc chính phủ), hiện nay còn 22 đầu mối (gồm 18 bộ, 4 cơ
quan ngang bộ). Ở cấp tỉnh từ 35 - 40 đầu mối nay còn 17 – 25 đầu mối cơ
quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân. Ở cấp huyện từ 20 - 25 đầu mối, nay
còn 8 - 12 đầu mối cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân.
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khoá
X, cơ cấu tổ chức bộ máy của Chính phủ được sắp xếp cho phù hợp yêu cầu,
nhiệm vụ mới, tinh gọn hơn, tổng hợp hơn. Chính phủ, cơ quan hành chính nhà
nước đã có sự đổi mới về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, bộ máy gắn với
quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, làm rõ hơn chức năng quản lý vĩ mô
của Chính phủ và các Bộ; phân biệt rõ hơn quản lý hành chính nhà nước với
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước. Chính phủ đã tiến
hành cải cách thể chế, tập trung cải cách thủ tục hành chính, nhất là trong lĩnh
vực liên quan đến sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân.
2.4. Các cơ quan tư pháp
Hệ thống tổ chức của toà án bao gồm: Toà án nhân dân tối cao, các toà án
nhân dân tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương, các toà án nhân dân huyện,
quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; các toà án quân sự; các toà án khác do
luật định. Trong tình hình đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định hình thành toà án
đặc biệt.
Hệ thống tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân bao gồm: Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, các viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương; các viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; các
viện kiểm sát quân sự.
Hệ thống các toà án, viện kiểm sát, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án
đã được kiện toàn và đổi mới một bước về tổ chức và hoạt động, về phối hợp
đấu tranh phòng chống tội phạm, giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân
gia đình, lao động và các vụ án khác, góp phần giữ vững ổn định chính trị và trật
tự an toàn xã hội.
3. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân
Các tổ chức bao gồm Công đoàn, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân được tổ chức từ Trung
ương đến cơ sở cùng với các tổ chức quần chúng khác đã từng bước đổi mới về
nội dung, phương thức hoạt động, khắc phục một bước tình trạng hành chính
hoá, coi trọng nhiệm vụ tập hợp và giáo dục vận động đoàn viên, hội viên và
nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, góp phần xây dựng Đảng,
chính quyền, đẩy mạnh phong trào thi đua lao động sản xuất xoá đói giảm
nghèo, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Những ưu điểm nổi bật trong việc đổi mới, kiện toàn tổ chức, bộ máy của
hệ thống chính trị ở nước ta sau 4 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, 5
khoá X (Thông báo kết luận số 39- TB/TW ngày 14/6/2011 của Bộ Chính trị) là:
- Từng bước sắp xếp, kiện toàn hợp lý hơn tổ chức, bộ máy cơ quan Đảng,
Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội theo hướng tinh
gọn. Số lượng đầu mối các bộ, ban, ngành giảm.
- Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức lãnh đạo, mối quan hệ, lề
lối làm việc của cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã
hội được quy định cụ thể hơn, điều chỉnh, bổ sung hợp lý, phân định rõ ràng hơn
theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Về cơ bản,
chức năng, nhiệm vụ của các ban đảng ở Trung ương, nhất là các ban có sự sắp
xếp, kiện toàn đã phù hợp với cơ cấu tổ chức mới, không trùng lắp, chồng chéo.
Chức năng, nhiệm vụ các bộ, cơ quan ngang bộ tiếp tục được hoàn thiện, khắc
phục cơ bản sự trùng dẫm, các bộ được tổ chức theo mô hình quản lý đa ngành,
đa lĩnh vực đã hoạt động ổn định, cơ chế phối hợp tốt hơn, hiệu lực, hiệu quả
được nâng lên, phân biệt rõ hơn chức năng quản lý nhà nước với chức năng
quản lý sản xuất kinh doanh, tách dần hoạt động hành chính với hoạt động của
các đơn vị kinh tế, sự nghiệp và dịch vụ công.
- Tổ chức đảng đoàn, ban cán sự đảng đã được xác định rõ hơn về chức
năng, nhiệm vụ, tổ chức và hoạt động.
- Chất lượng đội ngũ cán bộ công chức nhìn chung được nâng lên một
bước về trình độ lý luận chính trị, học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ. Đa số cán
bộ, công chức giữ gìn phẩm chất chính trị và đạo đức, lối sống, trung thành với
sự nghiệp cách mạng của Đảng, thích ứng dần với cơ chế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Những tiến bộ đó đã góp phần nâng cao hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của
các cấp uỷ đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước; đổi mới hoạt động
của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị- xã hội.
Những khuyết điểm, tồn tại chủ yếu:
- Tổ chức của một số cơ quan đảng, nhà nước và đoàn thể chính trị - xã
hội chưa thực sự tinh gọn, hiệu quả. Việc thành lập các tổng cục, cục thuộc tổng
cục nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý sâu chuyên ngành, nhưng chức năng, nhiệm
vụ, cơ chế phối hợp, quy chế làm việc chưa đủ rõ nên hiệu lực, hiệu quả hoạt
động chưa cao; nhiều cơ quan tăng số lượng lãnh đạo cấp phó, kể cả nơi không
hợp nhất tổ chức; chức năng đại diện chủ sở hữu còn trùng lặp, chưa rõ trách
nhiệm; cải cách hành chính có tiến bộ nhất định, nhưng nhìn chung chưa đáp
ứng được yêu cầu; cải cách tư pháp chậm, chưa đồng bộ.
- Việc thực hiện chức năng tham mưu và thẩm định về kinh tế - xã hội,
nội chính ở Trung ương và địa phương có phần còn bất cập; việc quản lý, kiểm
tra, giám sát trên một số lĩnh vực kinh tế, xã hội còn lỏng lẻo, thậm chí còn
không nắm chắc tình hình; những khó khăn, vướng mắc chậm được tháo gỡ.
- Nội dung và phương thức lãnh đạo của cấp uỷ và tổ chức đảng đổi mới
chậm. Nhiều cấp uỷ địa phương và cơ sở vẫn còn tình trạng bao biện, làm thay,
hoặc có mặt lại buông lỏng vai trò lãnh đạo. Tổ chức thực hiện và kiểm tra,
thanh tra, giám sát vẫn là khâu yếu; tình trạng ra nhiều nghị quyết, nhiều văn
bản lãnh đạo, chỉ đạo nhưng việc cụ thể hoá thường chậm, còn tình trạng chấp
hành không nghiêm. Hệ thống thể chế, quy định, quy chế tuy được rà soát, bổ
sung nhưng vẫn còn những chồng chéo. Mô hình tổ chức bộ máy, hệ thống luật
pháp chưa phân định thất rõ chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn, chưa
phản ánh hết đặc điểm của chính quyền đô thị, nhất là các đô thị lớn, kinh tế-
văn hoá- xã hội phát triển nhanh. Việc xác định chức năng tự chủ, tự chịu trách
nhiệm trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và chức năng quản lý nhà
nước,quản lý của chủ sở hữu của các bộ, các địa phương còn nhận thức khác
nhau, có nhiều sơ hở, hiệu quả thấp.
- Tổ chức, bộ máy của Mặt trận và các đoàn thể còn tình trạng nhà nước
hoá về tổ chức và kinh phí, hành chính hoá về phương thức hoạt động, cán bộ
đoàn thể làm việc gần như công chức nhà nước, khiến cho công tác của các đoàn
thể thiếu sự gắn bó mật thiết với quần chúng. Chưa có tiêu chí rõ ràng để phân
định các loại hình tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã
hội… bên cạnh một số hình thức tổ chức tự quản của quần chúng, nhiều hội có
tính chất nghề nghiệp và từ thiện cũng yêu cầu Nhà nước chi trả sinh hoạt phí,
cấp kinh phí và phương tiện hoạt động.
- Mục tiêu tinh giản biên chế chưa đạt yêu cầu, từ sau Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ IX đến nay, biên chế khối đảng và đoàn thể, hành chính, sự nghiệp
Nhà nước và khối đảng, đoàn thể vẫn có xu hướng tăng lên nhưng chất lượng
cán bộ vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Đội ngũ cán bộ vừa thừa vừa thiếu. Đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tăng về số lượng, nhưng chất lượng còn nhiều
hạn chế, nhất là đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh của cán bộ, công chức. Cơ
cấu và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức còn bất cập. Một bộ phận cán bộ,
công chức yếu kém về tinh thần trách nhiệm và thái độ phục vụ nhân dân.
III. SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐỔI MỚI, KIỆN TOÀN TỔ CHỨC, BỘ
MÁY CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
Ngày nay, khi bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, yêu cầu khách quan là phải tiếp tục đẩy mạnh đổi mới, kiện toàn tổ
chức, bộ máy của hệ thống chính trị ở nước ta cho phù hợp và đồng bộ với cơ
chế quản lý kinh tế - xã hội mới, nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tăng
cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước, tăng cường pháp chế xã hội
chủ nghĩa, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.
Trước hết, yêu cầu xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN phải có một hệ thống chính trị phù hợp : Đổi mới tổ chức bộ máy
của hệ thống chính trị ở nước ta phải nhằm phục vụ có hiệu quả sự lãnh đạo, chỉ
đạo, quản lý và điều hành thông suốt nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội
chủ nghĩa, thúc đẩy phát triển văn hoá – xã hội, an ninh – quốc phòng. Mục tiêu
là trong thập kỷ tới đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước
ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Thứ hai, đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị nhằm khắc phục
cho được những yếu kém tồn tại mà Đảng ta đã chỉ ra là tổ chức bộ máy còn
cồng kềnh, nhiều đầu mối với nhiều tầng nấc trung gian, chất lượng, hiệu quả
thấp, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm của nhiều cơ quan và
người đứng đầu chưa thật rõ, cơ chế vận hành và nhiều mối quan hệ còn bất hợp
lý, đội ngũ cán bộ, công chức còn hạn chế cả về năng lực chuyên môn và tinh
thần trách nhiệm Tệ quan liêu, lãng phí, tham ô, tham nhũng không giảm, có
mặt còn rất nghiêm trọng; trật tự kỷ cương bị vi phạm.
Thứ ba, các thế lực phản động và thù địch tiếp tục thực hiện những âm
mưu và thủ đoạn thâm độc chống phá nước ta, đặc biệt là âm mưu “diễn biến
hoà bình”, “bạo loạn lật đổ” nhằm xoá bỏ chủ nghĩa xã hội, xoá bỏ vai trò lãnh
đạo của Đảng. Vì vậy đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị nhằm khắc
phục tình trạng trì trệ, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của tổ chức đảng,
bộ máy Nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội; ngăn chặn những tư tưởng và
hành động sai trái, tiêu cực; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hành động
chống phá của các thế lực thù địch.
IV. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NGUYÊN TẮC CƠ BẢN KIỆN TOÀN
TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ NƯỚC TA
1. Quan điểm
- Việc đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy phải phù hợp với đặc điểm của
hệ thống chính trị nước ta vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản
lý, nhân dân làm chủ” do một Đảng duy nhất lãnh đạo; phù hợp với đặc điểm
của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế
và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, giữ vững và tăng cường vai
trò lãnh đạo của Đảng.
- Kiện toàn tổ chức bộ máy phải bảo đảm các cơ quan trong hệ thống
chính trị hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, tinh gọn, khắc phục tình trạng quan
liêu, trùng lặp, chống chéo về chức năng, nhiệm vụ hoặc tổ chức không phù hợp
với chức năng, nhiệm vụ. Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của
mỗi tổ chức, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị.
- Kiện toàn tổ chức bộ máy phải bảo đảm tính đồng bộ, hệ thống, bảo đảm
sự lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị nước ta; vừa xây dựng các cơ
quan của Đảng vững mạnh, đủ sức thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, vừa phát
huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức đảng và đảng viên trong các cơ quan
nhà nước, Mặt trận tổ quốc, đoàn thể chính trị xã hội.
- Đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy phải vừa kế thừa những thành quả
và kinh nghiệm đã đạt được, vừa đáp ứng yêu cầu của tiến trình đổi mới đất
nước, hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Mục tiêu
Kiện toàn tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị phải thực hiện được
mục tiêu tổng quát là:
“Giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, bản chất cách mạng
của Nhà nước ta, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong
hệ thống chính trị, mở rộng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đẩy mạnh
sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tăng cường tiềm lực
quốc gia, giữ vững ổn định chính trị, xã hội, củng cố mối quan hệ mật thiết giữa
Đảng, Nhà nước với nhân dân”.
Mục tiêu, yêu cầu cụ thể là phải từng bước nâng cao chất lượng chính
trị và hiệu quả hoạt động của mỗi tổ chức cũng như toàn hệ thống chính trị; xác
định rõ chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu bộ máy, cơ chế vận hành, lề lối làm việc;
nâng cao chất lượng cán bộ, tăng cường kỷ luật, kỷ cương; cụ thể hoá nội dung,
phương thức lãnh đạo của Đảng; nội dung và phương thức quản lý của Nhà
nước; nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể chính trị
- xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
3. Nguyên tắc cơ bản kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị
ở nước ta
Một là, việc đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống
chính trị phải xuất phát từ đường lối, nhiệm vụ chính trị của Đảng trong thời kỳ
mới, phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, thúc đẩy việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của
Đảng, Nhà nước và các đoàn thể.
Hai là, đổi mới, kiện toàn tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị là một
nhiệm vụ lớn, nặng nề và phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành. Vì
vậy, phải tiến hành vừa kiên quyết, vừa thận trọng, có bước đi thích hợp, phải
bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất của Đảng và sự quản lý điều
hành của Nhà nước. Phải bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ trong đổi mới,
kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, đồng thời bảo đảm cho tổ chức
bộ máy của hệ thống chính trị vận hành theo nguyên tắc tập trung dân chủ.
Ba là, kiện toàn hệ thống tổ chức đảng gắn với cải cách, đổi mới tổ chức
bộ máy của các cơ quan nhà nước và đoàn thể chính trị - xã hội.
Tổ chức bộ máy của Đảng phải phù hợp với điều kiện của một đảng cầm
quyền, giữ vai trò lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội; tổ chức bộ máy chuyên trách
phải tinh gọn, có chất lượng. Phát huy vai trò của các tổ chức đảng và đội ngũ
đảng viên, các cấp uỷ viên và cán bộ chủ chốt hoạt động trong các cơ quan nhà
nước và các đoàn thể vừa là hạt nhân lãnh đạo chính trị của các tổ chức đó, vừa
làm tham mưu cho Đảng về chủ trương, chính sách đối với những lĩnh vực có liên
quan. Xây dựng đội ngũ cán bộ đảng theo chức danh, tiêu chuẩn quy định.
- Đổi mới, kiện toàn bộ máy của Nhà nước phải bảo đảm tiến tới xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân, vì dân, là
công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân; bảo đảm được
nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công giữa các cơ quan
nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
- Kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động
của Quốc hội để thực hiện tốt chức năng lập pháp, quyết định các vấn đề quan
trọng của đất nước, quyết định và phân bổ ngân sách nhà nước, thực hiện quyền
giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.
- Điều chỉnh chức năng và cải tiến phương thức hoạt động của Chính phủ
theo hướng thống nhất quản lý vĩ mô việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh
tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong cả nước bằng hệ
thống pháp luật, chính sách hoàn chỉnh, đồng bộ.
- Cải cách tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư
pháp để thực hiện tốt chức năng điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, không để
xảy ra oan sai.
- Đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động của
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội phải bảo đảm từng bước
khắc phục tình trạng hành chính hoá, phô trương, hình thức, quan liêu, xa dân;
phát huy tốt vai trò là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, góp phần xây
dựng Đảng, Nhà nước trong sạch vững mạnh, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Bốn là, chỉ đạo và tổ chức thực hiện đổi mới, kiện toàn tổ chức, bộ máy
của hệ thống chính trị phải kết hợp chặt chẽ cả ba mặt: Coi trọng công tác giáo
dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên;
- Có chế độ, chính sách đúng đắn, hợp lý và đồng bộ để bảo đảm thực
hiện tốt chủ trương của Đảng về đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống
chính trị, tinh giản biên chế, không gây xáo trộn và ảnh hưởng lớn tới tư tưởng
và đời sống của cán bộ, công chức.
- Đề cao kỷ cương, kỷ luật, chấp hành nghiêm túc chủ trương, nghị quyết
của Đảng về đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Có chính
sách động viên khen thưởng những nơi tổ chức thực hiện tốt, phê bình xử lý
nghiêm túc những nơi không chấp hành hoặc hiệu quả tổ chức thực hiện kém.
V. GIẢI PHÁP CƠ BẢN KIỆN TOÀN TỔ CHỨC CỦA HỆ THỐNG
CHÍNH TRỊ Ở NƯỚC TA
Văn kiện Đại hội XI nêu yêu cầu tổng quát :
“ Tiếp tục xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và mô hình tổ chức của các tổ
chức trong hệ thống chính trị. Sớm tổng kết việc thực hiện sáp nhập một số ban,
bộ, ngành Trung ương để có chủ trương phù hợp. Kiện toàn, nâng cao chất
lượng các cơ quan tham mưu, đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu, nhất là ở
cấp chiến lược”.
1. Đối với các tổ chức đảng
Tổng kết đánh giá đúng thực trạng, đề ra các giải pháp củng cố và đổi
mới mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của các tổ chức đảng, nhất là đảng
đoàn, ban cán sự đảng. Tập trung chỉ đạo, củng cố những tổ chức đảng yếu kém;
kịp thời kiện toàn cấp uỷ và tăng cường cán bộ ở nơi có nhiều khó khăn, nội bộ
mắt đoàn kết. Coi trọng đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp uỷ, tổ
chức đảng. Phát huy dân chủ trong sinh hoạt đảng, từ sinh hoạt chi bộ, các cấp
uỷ đến Ban Chấp hành Trung ương. Chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân
chủ trong tổ chức, sinh hoạt đảng.
2. Đối với Quốc hội
Tiếp tục đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của
Quốc hội nhằm thực hiện tốt chức năng lập pháp, giám sát tối cao và quyết định
những vấn đề quan trọng của đất nước. Hoàn thiện cơ chế bầu cử đại biểu Quốc
hội để cử tri lựa chọn và bầu những người thực sự tiêu biểu vào Quốc hội. Nâng
cao chất lượng đại biểu Quốc hội, tăng cường hợp lý số đại biểu Quốc hội hoạt
động chuyên trách. Tổ chức lại một số uỷ ban của Quốc hội theo hướng chuyên
sâu hơn. Cải tiến, nâng cao chất lượng đại biểu hoạt động của Hội đồng dân tộc,
các Uỷ ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội và đoàn đại biểu Quốc hội. Đổi mới
quy trình xây dựng luật, tiếp tục giảm việc ban hành pháp lệnh.
Trọng tâm là tăng cường công tác lập pháp, xây dựng chương trình dài
hạn về lập pháp, đổi mới quy trình xây dựng luật, nâng cao chất lượng luật, pháp
lệnh mới ban hành. Bảo đảm để Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối
với toàn bộ hoạt động của Nhà nước, làm tốt chức năng quyết định các vấn đề
quan trọng của đất nước, quyết định và phân bổ ngân sách Nhà nước…hoàn
thiện quy chế về vai trò, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội chuyên trách. Nâng
cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ba cấp.
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo Quốc hội và Hội đồng nhân dân các
cấp.
3. Đối với Chủ tịch nước
Nghiên cứu xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của Chủ tịch nước
để thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn nguyên thủ quốc gia theo quy định của
Hiến pháp, thay mặt Nhà nước về đối nội, đối ngoại và thống lĩnh lực lượng vũ
trang; quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan thực hiện quyền lập pháp,
hành pháp và tư pháp; xây dựng Luật về Chủ tịch nước.
4. Đối với Chính phủ và các cơ quan hành chính nhà nước
Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây
dựng nền hành chính thống nhất, thông suốt, trong sạch, vững mạnh, có hiệu
lực, hiệu quả; tổ chức tinh gọn, hợp lý, tăng cường tính dân chủ và pháp quyền
trong điều hành của Chính phủ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước
trong giai đoạn mới của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và
hội nhập kinh tế quốc tế. Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách
nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ. Trọng tâm là điều chỉnh để làm rõ và thực
hiện đúng chức năng của các cơ quan quản lý Nhà nước, khắc phục tình trạng bỏ
trống hoặc trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ; cải tiến phương thức hoạt động
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét