Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

Một số biện pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu than tại Công ty Coalimex

Chơng III: Một số biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu than.
Đề tài này đợc hoàn thành với sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô chú ở Công
ty và cô giáo hớng dẫn Nguyễn Xuân Hơng đã giúp đỡ tôi hoàn thành tốt đề tài
này.
5
Chơng I
TMQT và tổ chức kinh doanh hàng XNK ở các doanh nghiệp
trong nền KTTT
I. Thơng mại quốc tế và sự tồn tại khách quan của thơng mại quốc
tế trong nền KTTT.
1. Khái niệm và sự tồn tại khách quan của thơng mại quốc tế .
1.1 Khái niệm :
Thơng mại quốc tế là sự trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa các nớc thông
qua mua bán. Sự trao đổi đó là một hình thức của mối quan hệ xã hội và phản ánh
sự phụ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế giữa các quốc gia.
Trong điều kiện hiện nay, xét trên phạm vi quốc tế, nền kinh tế phát triển
theo cơ chế thị trờng là yêu cầu khách quan của mọi quốc gia. Đơng nhiên trong
mọi thời đại , nớc nghèo thờng bị nớc giàu chèn ép, song trong điều kiện nền kinh
tế đợc quốc tế hoá, không chỉ nớc nghèo mà cả nớc giàu cũng không thể phát triển
nếu tự tách mình hoặc bị cô lập khỏi thị trờng kinh tế thế giới . Sản xuất hàng hoá
ra đời và phát triển kéo theo sự phát triển không ngừng của trao đổi và lu thông
hàng hoá cũng nh sự phát triển của phân công lao động và chuyên môn hoá quốc
tế
Trao đổi và lu thông hàng hoá ngày càng phát triển cao hơn và hiện đại hơn
từ trao đổi hàng hoá với nhau trong từng vùng , giữa các vùng tiến tới vợt ra khỏi
lãnh thổ của một nớc để trao đổi mua bán với các quốc gia khác hình thành lên th-
ơng mại quốc tế .
1.2 Sự tồn tại khách quan của thơng mại quốc tế :
Thơng mại quốc tế có vai trò quan trọng đối với các quốc gia vì lý do cơ
bản là nó mở rộng khả năng sản xuất và tiêu dùng của một nớc . Thơng mại quốc
tế cho phép một nớc tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lợng nhiều hơn mức có
6
thể tiêu dùng với ranh giới của khả năng sản xuất, tiêu dùng trong nớc khi thực
hiện chế độ tự cung tự cấp, không buôn bán. Thơng mại với tính chất là trao đổi
hàng hoá đã xuất hiện từ lâu ở phạm vi và mức độ khác nhau từ một vùng , giữa
các vùng , giữa các quốc gia gần nhau về địa lý nh: Lào , Việt Nam , Trung
Quốc Ngày nay chúng ta thấy sự giao dịch thơng mại đã phát triển trên toàn cầu
do xu hớng quốc tế hoá nền kinh tế .
Cơ sở của thơng mại quốc tế là sự trao đổi và chuyên môn hoá dựa trên lý
thuyết về lợi thế so sánh .
Sự khác nhau giữa các nớc về nguồn tài nguyên thiên nhiên và các yếu tố
sản xuất khác nhau nh lao động và trình độ kỹ thuật , công nghệ dẫn đến sự khác
biệt về chi phí sản xuất và giá cả sản phẩm . Chính vì vậy mà từ xa xa các nớc đã
trao đổi buôn bán với nhau . Qua sự trao đổi đó họ có thể mua từ nớc ngoài những
hàng hoá có chất lợng tốt hơn và giá cả laị rẻ hơn chi phí để sản xuất hàng hoá đó
trong nớc . Đồng thời lại có thể bán hàng hoá khác ra nớc ngoài với giá cả lớn hơn
nhiều so với chi phí .
Tiền đề của sự trao đổi là phân công lao động xuất phát từ điều kiện tự
nhiên,
Điều kiện sản xuất . Do khả năng , tiềm lực của mỗi nớc không tự sản xuất
đủ để đáp ứng nhu cầu của quốc gia đó đợc hoặc có đi chăng nữa thì với chi phí
cực lớn . Vì vậy muốn thoả mãn nhu cầu họ đã phải trao đổi với các nớc khác .
Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật phạm vi chuyên môn hóa ngày một tăng , số
sản phẩm dịch vụ để thoả mãn nhu cầu ngày càng dồi dào và có xu hớng quốc tế
hoá đồng thời sự phụ thuộc giữa các nớc ngày một tăng .
Thơng mại quốc tế xuất hiện trên cơ sở của sự trao đổi và chuyên môn hoá
nhng nó lại dựa trên lý thuyết về lợi thế đó là lợi thế tuyệt đối và lợi thế tơng đối
( lợi thế so sánh ).
Theo lợi thế tuyệt đối thì mỗi quốc gia theo điều kiện tự nhiên hay do trình
độ sản xuất phát triển cao đã sản xuất ra những sản phẩm hành hoá nhất định đối
7
với chi phí thấp hơn so với các nớc kia . Điều đó sẽ dẫn đến việc nớc này sẽ
chuyên môn hoá sản xuất loại hàng hoá có chi phí thấp để xuâtài sản khẩu . Đồng
thời lại nhập khẩu những mặt hàng mà nớc đó không sản xuất đợc hoặc sản xuất
với chi phí cao hơn .
Trên thực tế lợi thế tuyệt đối không giải thích đợc nhiều vấn đề chẳng hạn
điều gì sẽ xảy ra nếu một quốc gia tỏ ra bất lợi trong việc sản xuất tất cả các mặt
hàng . Một nớc có trình độ phát triển kinh tế , khoa học còn thấp nh nớc ta tại sao
vẫn tham gia thơng mại quốc tế cùng với các nớc phát triển mạnh nh Anh , Mỹ ,
Đức , Hàn Quốc
Chìa khoá để trả lời cho câu hỏi này là lý thuyết lợi thế so sánh của David
Ricacdo. Lý thuyết này giải thích tại sao khi một quốc gia không có đợc lợi thế ở
bất kỳ mặt hàng nào cũng thu đợc lợi ích từ việc buôn bán với các nớc khác.
Lý thuyết này đợc xây dựng trên một loạt các giả thiết đã đợc đơn giản hoá
nh chỉ có hai nớc sản xuất hàng hoá, nhân tố sản xuất duy nhất là lao động có thể
di chuyển tự do trong từng nớc nhng không di chuyển đợc giữa các nớc: chi phí
sản xuất không đổi, công nghệ không đổi, thơng mại hoàn toàn tự do
Quy luật lợi thế so sánh phát biểu rằng nếu mỗi quốc gia thực hiện chuyên
môn hoá sản xuất những mặt hàng mà nớc đó có lợi thế so sánh thì tổng sản lợng
của tất cả các mặt hàng sẽ tăng lên và tất cả các nứơc đó sẽ trở nên sung túc hơn.
Trong trờng hợp một nớc tỏ ra kém hiệu quả hơn một nớc khác trong việc sản xuất
tất cả các mặt hàng thì vẫn tồn tại cơ sở dẫn đến chuyên môn hoá sản xuất và trao
đổi . Cụ thể quốc gia thứ nhất sẽ tập trung vào sản xuất và xuất khẩu mặt hàng có
mức bất lợi tuyệt đối nhỏ hơn và nhập khẩu mặt hàng có mức bất lợi tuyệt đối lớn
hơn.
Qui luật lợi thế so sánh là nguyên lí quan trọng của kinh tế học nhng việc giải
thích nh Ricacđô còn hạn chế vì nó chủ yếu dựa vào lý luận về giá trị lao động và
cho rằng nó là yếu tố sản xuất duy nhất. Trong thực tế lại không phải nh vậy mà
8
nó còn phụ thuộc vào trình độ đào tạo, năng suất, tiền lơng. Sau đó các nhà kinh tế
đã đa ra lý thuyết về cơ hội để giải thích đợc sự buôn bán giữa các quốc gia.
Theo lý thuyết này thì chi phí của một mặt hàng là số lợng mặt hàng khác
phải giảm cắt để có thể sản xuất thêm một đơn vị mặt hàng thứ nhất.
Mỗi quốc gia đợc coi là có lợi thế so sánh vì mặt hàng nào đó nếu mất chi
phí cơ hội để sản xuất mặt hàng này tại quốc gia đó thấp hơn chi phí cơ hội để sản
xuất mặt hàng đó tại quốc gia khác. Lý thuyết này dùng để xem xét quá trình sản
xuất trao đổi và tiêu dùng giữa các quốc gia.
Ngoài những cơ sở trên còn rất nhiều lý do khiến TMQT trở nên quan trọng
nh TMQT tối cần thiết cho việc thực hiện chuyên môn hó sâu để có đợc hiệu quả
kinh tế cao trong ngành công nghiệp hiện đại.
Chuyên môn hoá qui mô lớn sẽ phát huy đợc hiệu quả kinh tế theo qui mô.
Ngày nay trong thể Quốc tế hoá đời sống kinh tế sâu rộng, khoa học kỹ
thuật phát triển cao có thể chia các công đoạn của quá trình sản xuất thành các
khâu khác nhau và bố trí ở những vị trí cách xa nhau thì không một nớc nào có thể
tách mình biệt lập với mối quan hệ cùng có lợi với bên ngoài.
Thơng mại Quốc tế đã mở rộng khả năng tiêu dùng của một nớc. Ta biểu thị
qua biểu đồ dới đây:
a. Khi sản xuất cố định:
9
X
a
+
X
2
X
1
X
1
Y
2
Y
1
t
E
Y
Giả sử đờng EF là đờng giới hạn khả năng sản xuất cũng là đờng giới hạn
khả năng tiêu dùng của nền kinh tế.
Nếu không có thơng mại Quốc tế thì khối lợng sản xuất hay khối lợng tiêu
dùng chính là EF.
Giả sử nền kinh tế đang ở mức tiêu dùng tại điểm a nghĩa là sản xuất và tiêu
dùng Y, mặt hàng Y và x
1
mặt hàng x.
Khi có thơng mại Quốc tế thì khả năngtd bây giờ sẽ là đờng H đi qua a. Qua
xuất nhập khẩu ta sẽ giảm đi một lợng hàng Y để đổi lấy một lợng hàng khác X
nên kinh tế sẽ đạt mức tiêu dùng tại điểm b thuộc tt tơng ứng với mức tiêu dùng là
Y
2
hàng hoá Y và x
2
hàng hoá X.
Nh vậy ta đã xuất khẩu một lợng hàng là Y hàng hoá Y (Y = Y
1
- Y
2
) để
đổi lấy một lợng là X hàng hoá X (X = X
1
- X
2
)
Rõ ràng nếu không có xuất nhập khẩu thì theo đờng giới hạn tiêu dùng nếu
ta tiêu dùng ẵ hàng hoá Y thì sẽ tiêu dùng đợc X
2
hàng hoá X mà X
2
< X
2
Do đó khi sản xuất cố định, ngoại thơng mở rộng khả năng tiêu dùng
b. Khi sản xuất thay đổi:
Đờng giới hạn khả năng sản xuất hay giới hạn khả năng tiêu dùng là EF.
Nhng do có thể thay đổi đợc các yếu tố sản xuất ta có thể dịch chuyển điểm a đến
d bằng cách chuyên môn hoá sản xuất mặt hàng Y.
Đờng biểu diễn khả năng tiêu dùng bây giờ khi có xuất khẩu sẽ dịch chuyển
từ H đến tt. Điều này cho phép tiêu dùng nhiều hơn cả hai loại sản phẩm do việc
chuyên môn hoá sản xuất mặt hàng Y và qua giao dịch xuấ nhập khẩu đổi lấy mặt
hàng X
Nh vậy: ngoại trừ điểm d.
10
tX
a
t
X
2
X
1
X
1
Y
2
Y
1
t
t
E
- Nếu không có xuất nhập khẩu thì khả năng tiêu dùng luôn thuộc đờng giới
hạn khả năng sản xuất ở bất cứ điểm nào.
- Nếu có xuất nhập khẩu thì đờng giới hạn tiêu dùng thay đổi làm cho khả
năng tiêu dùng tăng lên.
Đặc biệt khi có thể thay đổi đợc điều kiện sản xuất thì một nớc sẽ chuyên
môn hoá mặt hàng mà nớc đó có u thế (Y) để xuất khẩu và nhập khẩu mặt hàng X,
nó sẽ cho phép tăng khả năng tiêu dùng của cả hai loại hàng hoá. Đó chính là lợi
ích của thơng mại Quốc tế. Nó đã giải thích về cơ sỏ kinh tế của việc trao đổi hàng
hoá giữa các nớc. Từ đó càng thấy rõ thơng mại Quốc tế tồn tại khác quan và đem
lại lợi ích cho mỗi quốc gia tham gia trao đổi.
Nhận thức rõ điều này Đảng ta đã coi thơng mại Quốc tế mà đặc biệt là xuất
khẩu là công cụ để thực hiện công cuộc xây dựng đất nớc công nghiệp hoá, hiện
đại hoá.
2. Tác dụng của thơng mại Quốc tế đối với đất nớc và doanh nghiệp.
2.1 Đối với đất nớc.
Tác dụng của thơng mại Quốc tế chính là việc khắc phục những tồn tại của
một nền kinh tế đóng cửa mà trong điều kiện Quốc tế hoá đời sống kinh tế ngày
càng cao sự phân công lao động Quốc tế ngày càng sâu sắc, các nớc ngày càng
phụ thuộc lẫn nhau và tham dự tích cực hơn vào quá trình liên kết và hợp tác Quốc
tế, nó không còn phù hợp. Những tồn tại đó là:
11
- Chính sách đóng cửa đã hạn chế khả năng tiếp thu kỹ thuật mới, làm cho
nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ là chủ yếu, không có nguồn bổ
xung kỹ thuật tiên tiến trong khi cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển
mạnh trở thành một nhân tố quyết định sự phát triển của sản xuất.
- Hầu hết các nớc nghèo nàn, lạc hậu đang phát triển đều thiếu vốn . Trong
khi đó quá trình phát triển nền kinh tế đòi hỏi phải nhập khẩu một khói lợng ngày
càng nhiều máy móc thiết bị và nguyên liệu công nghiệp. Nếu không phát triển
mạnh thơng mại Quốc tế thiếu hụt trong cán cân thanh toán Quốc tế ngày càng lớn
và găy gắt.
- Thị trờng trong nớc nhỏ hẹp, không đủ đảm bảo cho sự phát triển công
nghiệp với qui mô hiện đại, sản xuất hàng loạt do đó không tạo thêm đợc viêc làm,
một vấn đề mà các nớc nghèo luôn cần giải quyết.
Vì vậy thơng mại Quốc tế ra đời là một tất yếu khách quan khắc phục
những tồn tại trên để đẩy mạnh sự phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật của từng
quốc gia với xu thế chung của toàn thế giới. Đó là:
Tạo vốn nớc ngoài cần thiết để nhập khẩu vật t thiết bị kỹ thuật, xây
dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Thực hiện công
nghiệp hoá XHCN thông qua hoạt động xuất nhập khẩu cũng nh việc thu
hút vốn đầu t nớc ngoài.
Thông qua hoạt động xuất nhập khẩu, đã phát huy và sử dụng tốt hơn
nguồn lao động và tài nguyên của đất nớc, tăng giá trị ngày công lao
động, tăng thu nhập quốc dân.
Kinh doanh thơng mại Quốc tế phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới
kinh tế, góp phần thực hiện đờng lối đối ngoại của Nhà nớc.
Việc xuất nhập khẩu trong nền kinh tế thị trờng tất yếu dẫn đến cạnh
tranh theo dõi kiểm soát chặt chẽ giữa các chủ thể tham gia sản xuất do
12
đó chủ thể của nền kinh tế đợc nâng cao, việc đa tiến bộ khoa học kỹ
thuật mới đợc thờng xuyên và có ý thức.
Xuất nhập khẩu tiến tới xoá bỏ nhanh chóng những chủ thể kinh doanh
các sản phẩm lạc hậu không thể chấp nhận đợc, đồng thời góp phần
quản lý cơ chế quản lý xuất nhập khẩu của Nhà nớc và mỗi địa phơng
thông qua các đòi hỏi hợp lý cuả các chủ thể tham gia xuất nhập khẩu
trong quá trình thực hiện.
Kinh doanh thơng mại Quốc tế trong giai đoạn hiện nay nh Đảng ta nhận
định là đặc biệt quan trọng góp phần tích cực nhất vào việc thẵng lợi của đờng lối
đổi mới và xây dựng kinh tế ở nớc ta.
2.2 Đối với doanh nghiệp:
Xuất nhập khẩu là một bộ phận quan trọng của thơng mại Quốc tế, nó tác
động đến doanh nghiệp trên các mặt sau:
- Nó phát huy cao độ tính năng động sáng tạo của mọi ngời, mọi đơn vị,
mọi tổ chức, mọi ngành nghề, mọi địa phơng trong xã hội bởi vì xuất nhập khẩu
dễ dàng thu đợc hiệu quả lớn. Khả năng phát hiện chính xác các mặt hàng xuất
khẩu có hiệu quả cao sẽ có ý nghĩa lớn vì nó đồng thời đuực nhiều cá nhân và tổ
chức thực hiện, các luồng thông tin đợc khai thông các mối quan hệ đợc sử dụng
tích cực.
- Xuất nhập khẩu trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
còn dẫn tới việc hình thành các liên doanh, liên kết giữa các chủ thể trong và ngời
nớc một cách tự giác nhằm tạo sức mạnh phát triển cho các chủ thể một cách thiết
thực.
- Nó dẫn tới sự liên kết chặt chẽ giữa các nhà sản xuất với các nhà khoa học
một cách thiết thực và có hiệu quả, nó khơi thông nhiều nguồn chất xám ở cả
trong và ngoài nớc.
13
- Phát huy hiệu quả kinh tế theo quy mô đó là: nhờ áp dụng khoa học kỹ
thuật tiến bộ cũng nh việc sử dụng có hiệu quả các yếu tố đầu vào làm cho năng
suất cao, chất lợng tốt dẫn đến việc giảm chi phí sản xuất, tăng hiệu quả công tác
xuất nhập khẩu.
Bên cạnh đó xuất nhập khẩu trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
theo cơ chế thị trờng còn có những tồn tại cần khắc phục nh tình trạng rối ren
trong buôn bán do cạnh tranh. Nếu không có sự kiểm soát chặt chẽ sẽ gây ra các
thiệt hại về kinh tế trong quan hệ với nớc ngoài. Đồng thời cạnh tranh sẽ dẫn đến
sự thôn tính lẫn nhau giữa các chủ thể bằng các biện pháp xấu nh phá hoại công
việc của nhau. Trong cơ chế thị trờng xuất nhập khẩu có thể dẫn tới các hiện tợng
xấu về kinh tế xã hội, t tởng nh buôn lâu, trốn thuế, tha hoá cán bộ
3. Đặc trng của thơng mại Quốc tế.
3.1 Sự khác nhau giữa thơng mại Quốc tế với buôn bán trong nớc:
Giao dịch thơng mại Quốc tế là sự mở rộng của giao dịch buôn bán trong n-
ớc. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xu hớng quan hệ hợp tác kinh tế giữa
các nớc ngày càng phát triển. Trong hệ thống kinh tế thế giới thì mỗi quốc gia có
vai trò nh một mắt xích, các mắt xích này liên kết chặt chẽ với nhau.
Xét về mặt giao dịch thì thơng mại Quốc tế và buôn bán trong nớc có những
điểm giống nhau chẳng hạn nh bớc chào hàng, bớc thoả thuận về điề kiện mua
bán. Bên cạnh đó có những mặt khác với buôn bán trong nớc, đó là
- Do điều kiện không gian nên thời gian giao dịch thờng là lâu hơn so với
thời gian giao dịch mua bán trong nớc.
- Hợp đồng thơng mại Quốc tế là hợp đồng mang tính chất thông lệ Quốc tế
vì đó là sự giao dịch ký kết giữa các quốc gia có hệ thống pháp luật không gióng
nhau.
- Ngôn ngữ của hợp đồng phải là ngôn ngữ mà cả hai bên cùng hiểu và nhất
trí để dễ dàng đàm phán ký kết. Nó có thể là ngon ngữ của một trong hai nớc nhng
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét