LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu TIỂU LUẬN: Nâng cao năng lực cạnh tranh của thuỷ sản Việt Nam trên thị trường Mỹ docx": http://123doc.vn/document/1050149-tai-lieu-tieu-luan-nang-cao-nang-luc-canh-tranh-cua-thuy-san-viet-nam-tren-thi-truong-my-docx.htm
định, doanh nghiệp vẫn phải tiếp tục năng cao khả năng cạnh tranh cuả mình hơn
nữa, có như vậy mới tránh được sự bắt trước, làm nhái sản phẩm của đối thủ cạnh
tranh, đồng thời tạo cho sản phẩm của doanh nghiệp mình sự đổi mới liên tục. Ngay
khi tạo ra được sức cạnh tranh trên lĩnh vực này phải nghĩ ngay tới việc nâng cao sức
cạnh tranh ở lĩnh vực khác, bởi nếu doanh nghiệp tự bằng lòng và thỏa mãn với chính
mình thì chẳng khác nào dâng phần bánh thị phần của mình cho kẻ khác. Nâng cao
khả năng cạnh tranh chính là doanh nghiệp tiếp tục nâng cao thị phần doanh thu và
vị thế của mình trên thị trường. Mặt khác, doanh nghiệp phải tìm mọi cách giảm thiểu
chi phí nhằm gia tăng lợi nhuận và uy tín của mình.Trong thế giới kinh doanh hiện
đại , năng lực cạnh tranh là thiết yếu để đáp ứng những yêu cầu của khách hàng ,
giúp đỡ cho các doanh nghiệp có thể đạt được bất kỳ mục tiêu nào. Các doanh nghiệp
thành công phải thể hiện năng lực cạnh tranh cần thiết nhằm vượt qua các đối thủ của
mình bằng không khi doanh nghiệp dừng lại mà không tự mình nâng cao khả năng
cạnh tranh thì doanh nghiệp khác sẽ tận dụng cơ hội vượt lên và giành chiến thắng.
1.2.2. Nâng cao năng lực cạnh tranh là xu thế tất yếu trong quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Ngày nay, thuật ngữ hội nhập kinh tế quốc tế đã không còn xa lạ gi nữa thậm
chí trở lên khá quên thuộc do tính chất lan rộng trên thực tế của nó. Các quốc gia trên
thế giới hiện nay đã, đang và chuẩn bị lực lượng của mình thật hùng hậu trong quá
trình hội nhập kinh tế. Bởi vì hội nhập hiện nay mang tính toàn cầu hóa , đã xóa bỏ
biên giới thị trường giữa các quốc gia, thúc đẩy sự tự do di chuyển các nguồn lực như
con người, vốn công nghệ, kỹ thuật, nhà máy, Sự di chuyển tự do đó khiến hàng hóa
từ các nước phát triển dần chiếm chỗ thị trường các nước đang phát triển và kém phát
triển. Do đó nó mang theo ưu thế về kỹ thuật, công nghệ, tài chính cũng kinh nghiệm
quản lý kinh doanh đã thực sự đặt doanh nghiệp của nhà nước đang phát triển và
kém phát triển vào trước một sức cạnh tranh lớn. Và nếu doanh nghiệp của các nươc
sở tại không phát huy được năng lực cạnh tranh cho mình thì sẽ thua ngay trên sân
nhà, chấp nhận làm thuê cho doanh nghiệp các nước phát triển .
Cụ thể, khi Việt Nam gia nhập các tổ chức như APEC, ASEAN, ASEM,
AFTA, đặc biệt là khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO,thì đã có
sự đan xen, gắn bó, và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia và nền kinh
tế thế giới. Khi gia nhập các tổ chức như đã nói ở trên ta từng bước xoa bỏ từng phần
rào cản về thương mại và đầu tư giữa các quốc gia theo hướng tự do hoá kinh tế.
Điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có những đổi mới để nâng
cao sức cạnh tranh trên thương trường, khơi thông các dòng chảy nguồ lực trong và
ngoài nước, tạo điều kiện mở rộng thị trường, chuyển giao công nghệ và các kinh
nghiệm quản lý.Và khi kí các hiệp định thương mại song phương như hiệp định
thương mại Việt - Mỹ,thì hàng hóa của các nước khi vào Việt Nam sẽ phải chịu một
mức thuế nhập khẩu rất thấp thậm chí đôi khi không phải chịu thuế, nên hàng hóa của
họ đã phong phú đa dạng lại lại còn rẻ. Điều này đã khiến các doanh nghiệp phải
không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm tạo ra các ưu thế về các mặt hàng,
về mặt giá cả, giá trị sử dụng, chất lượng, uy tín của sản phẩm, của doanh nghiệp để
đạt được những ưu thế tươn đối trong cạnh tranh, đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ. Mặt
khác, doanh nghiệp cần tăng cường đầu tư cho hoạt động marketing nhằm nghiên
cứu nhu cầu, tìm ra kẽ hở thị trường và bằng mọi cách xâm nhập , chiếm lĩnh thị
trường mới, tránh tình trạng không đủ năng lực cạnh tranh đã trở nên điêu đứng ,
thua lỗ liên tụcdần dần bị phá sản, giải thể.
Tóm lại nâng cao năng lực cạnh tranh là xu thế tất yếu của các doanh nghiệp
trong quá trình hội nhập kinh tế giữa các quốc gia trên toàn thế giới.
1.3.Những chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
1.3.1. Cạnh tranh bằng sản phẩm.
Chữ tín của sản phẩm quyết định chữ tín của doanh nghiệp và tạo lợi thếcó tính quyết
định trong cạnh tranh, cạnh tranh về sản phẩm thường thể hiện chủ yếu qua những
mặt sau.
- Cạnh tranh về trình độ của sản phẩm: Chất lượng của sản phẩm, tính hữu
dụng của sản phẩm, bao bì. Tuỳ theo những sản phẩm khác nhau để chúng ta lựa
chọn nhứng nhóm chỉ tiêu khác nhau có tính chất quyết định trình độ của sản
phẩm.Doanh nghiệp sẽ chiến thắng trong cạnh tranh nếu như lựa chọn trình độ sản
phẩm phù hợp với yêu cầu của thị trường.
- Cạnh tranh về chất lượng : Tuỳ theo từng sản phẩm khác nhau với các đặc
điểm khác nhau để ta lựa chọn chỉ tiêu phản ánh chất lượng sản phẩm khác nhau.
Nếu tạo ra nhiều lợi thế cho chỉ tiêu này thì sản phẩm càng có nhiều cơ hội giành
thắng lợi trong cạnh tranh trên thị trường.
- Cạnh tranh về bao bì: Đặc biệt là những ngành có liên quan đến lương thực,
thực phẩm, những mặt hàng có giá trị sử dụng cao. Cùng với việc thiết kế bao bì cho
phù hợp, doanh nghiệp còn phải lựa chọn cơ cấu sản phẩm cho phù hợp. Lựa chọn
cơ cấu hàng hoá và cơ cấu chủng loại hợp lý. Điều đó có nghĩa là trong việc đa dạng
hoá và cơ cấu chủng loại và sản phẩm nhất thiết phải dựa vào một số sản phẩm chủ
yếu. Cơ cấu thường thay đổi theo sự thay đổi của thị trường. Đặc biệt là những cơ
cấu có xu hướng phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng .
- Cạnh tranh và nhãn mác, uy tín sản phẩm. Doanh nghiệp sử dụng công cụ
này để đánh trực tiếp vào trực giác của người tiêu dùng.
- Cạnh tranh do khai thác hợp lý chu kỳ sống của sản phẩm. Sử dụng biện
pháp này doanh nghiệp cần phải có những quyết định sang suốt để đưa ra một sản
phẩm mới hoặc dừng việc cung cấp một sản phẩm đã lỗi thời.
1.3.2. Cạnh tranh về giá.
Giá là một trong các công cụ quan trọng trong cạnh tranh thường được sử dụng
trong giai đoạn đầu của doanh nghiêp khi doanh nghiệp khi doanh nghiệp bước
vào một thị trường mới… Ví dụ, để thăm dò thị trường các doanh nghiệp đưa vào
thị trường mức giá thấp và sử dụng mức giá đó để phá kênh phân phối của đối
thủ cạnh tranh. Cạnh tranh bằng giá cả thường được thể hiện qua các biện pháp
sau:
- Kinh doanh với chi phí thấp.
- Bán với mức giá hạ và mức giá thấp.
Mức giá có vai trò cực kỳ quan trọng trong cạnh tranh. Nếu như chênh lệch về giá
giữa doanh nghiệp và đối thủ cạnh tranh lớn hơn chêch lệch về giá trị sử dụng sản
phẩm của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp đã đem lại lợi ích
cho người tiêu dùng lớn hơn so với đối thủ cạnh tranh Vì lẽ đó sản phẩm của doanh
nghiệp sẽ ngày càng chiếm được lòng tin của người tiêu dùng và cũng có nghĩa là sản
phẩm của doanh nghiệp có vị trí cạnh tranh ngày càng cao.
Để đạt được mức giá thấp doanh nghiệp cần phải xem xét khả năng hạ giá sản phẩm
của đơn vị mình. Có càng nhiều khả năng hạ giá phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Chi phí về kinh tế thấp.
- Khả năng bán hàng tốt, do đó có khối lượng bán lớn.
- Khả năng về tài chính tốt.
Như trên đã trình bầy, hạ giá là phương pháp cuối cùng mà doanh nghiệp sẽ
thực hiện trong cạnh tranh bởi hạ giá ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh
nghiệp. Vì vậy doanh nghiệp cần phải lựa chọn thời điểm thích hợp để tiến hành sử
dụng giá cả làm vũ khí cạnh tranh. Như thế doanh nghiệp cần phải kết hợp nhuần
nhuyễn giữa giá cả và các bộ phận về chiết khấu với những phương pháp thanh toán ,
với xu thế, trào lưu của người tiêu dùng. Đồng thời, do đặc điểm ở từng vùng thị
trường khác nhau là khác nhau nên doanh nghiệp cũng cần phải có những chính sách
giá hợp lý ở từng vùng thị trường. Một chính sách giá cả là phải biết kết hợp giữa giá
cả của sản phẩm với chu kỳ sống của sản phẩm đó. Việc kết hợp này sẽ cho phép
doanh nghiệp khai thác được tối đa khả năng tiêu thụ của sản phẩm, cũng như không
bị mắc vào những lỗi lầm trong việc khai thác chu kỳ sống , đặc biệt là với những
sanr phẩm đang đứng trước sự suy thoái.
1.3.3. Cạnh tranh về phân phối và bán hàng.
Cạnh tranh về phân phối và bán hàng được thể hiện qua các nội dung chủ yếu
sau đây:
- Khả năng đa dạng hoá các kênh và chọn được kênh chủ lực. Ngày nay, các
doanh nghiệp thường có một cơ cấu sản phẩm rất đa dạng. Thích ứng với mỗi sản
phẩm đó có các biện pháp cũng như các kênh phân phối khác nhau. Việc phân định
đâu là kênh kênh phân phối chủ lực có ý nghĩa quyết định trong việc tối thiểu hoá
chi phí dành cho tiêu thụ sản phẩm.
- Tìm được những người điều khiển đủ mạnh. Đối với các doanh nghiệp sử
dụng các đại lý độc quyền thì cần phải xem xét đến sức mạnh của các doanh nghiệp
thương mại làm đại lý cho doanh nghiệp. Điều này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, có
vốn lớn và đủ sức chi phối được lực lượng bán hàng trong kênh trên thị trường. Đối
với các doanh nghiệp sử dụng nhiều kênh phân phối và trực tiếp quản lý các kênh
phân phối phải tìm ra được kênh phân phối chủ đạo, chiếm tỷ lệ chính trong tỷ lệ tiêu
thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
- Có hệ thống bán hàng phong phú. Đặc biệt là hệ thống các kho, các trung tâm
bán hàng. Các trung tâm này phải có được cơ sở vất chất hiện đại.
- Có nhiều biện pháp để kết dính các kênh lại với nhau . Đặc biệt những biện
pháp quản lý ngưòi bán và điều khiển người bán đó.
- Có những khả năng hợp tác giữa người bán trên thị trường, đặc biệt là trong
các thị trường lớn.
- Có các dịch vụ bán hàng và sau bán hàng hợp lý.
- Kết hợp hợp lý giữa phương thức bán và phương thức thanh toán
Các dịch vụ bán và dịch vụ sau khi bán.
Chủ yếu là các nội dung sau:
- Tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất trong thanh toán.
- Có chính sách tìa chính và tiền tệ hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc
mua bán với khách hàng.
- Có hệ thống thanh toán nhanh, hợp lý vừa tạo điều kiện thanh toán nhanh
vừa đảm bảo công tác quản lý của doanh nghiệp.
- Có phương tiện bán văn minh, các phương tiện tạo ưu thế cho khách hàng, tạo
điều kiện để có công nghệ bán hàng đơn giản, hợp lý. Nắm được phản hồi của khách
hàng nhanh nhất và hợp lý nhất.
- Bảo đảm lợi ích của người bán và người mua. người tiêu dùng tốt nhất và
công bằng nhất. Thường xuyên cung cấp những dịch vụ sau khi bán hàng người sử
dụng, đặc biệt là những sản phẩm có bảo hành hoặc hết thời hạn bảo hành. Hình
thành mạng lưới dịch vụ rộng khắp ở những địa bàn dan cư.
1.3.4. Cạnh tranh về thời cơ thị trường:
Doanh nghiệp nào dự báo được thời cơ thị trường và nắm được thời cơ thị trường
sẽ chiến thắng trong cạnh tranh. Thời cơ thị trường thường xuất hiện so các yếu tố
sau:
- Do sự thay đổi của môi trường công nghệ.
- Do sự thay đổi của yếu tố dân cư, điều kiện tự nhiên.
- Do các quan hệ tạo lập được của từng doanh nghiệp.
Cạnh tranh về thời cơ thị trường thể hiện ở chỗ doanh nghiệp dự báo được những
thay đổi của thị trường. Từ đó có các chính sách khai thác thị trường hợp lý và sớm
hơn các doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, cạnh tranh về thời cơ thị trường cũng còn thể
hiện ở chỗ doanh nghiệp tìm ra được những lợi thế kinh doanh sớm và đi vào khai
thác thị trường và một loạt sản phẩm của doanh nghiệp cũng sẽ sớm bị lão hoá. Yêu
cầu này đòi hỏi các doanh nghiệp phải thích ứng với những thay đổi đó.
1.3.5. Cạnh tranh về không gian và thời gian.
Loại cạnh tranh này xuất hiện những vấn đề về chính sách sản phẩm và chính
sách giá cả của sản phẩm. Gía cả của các doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường
chênh lệnh là không lớn, chất lượng sản phẩm là tương đối ổn định. Trong trường
hợp như vậy thời cơ và thời gian có vai trò quan trọng và nó quyết định về việc buôn
bán . Những doanh nghiệp nào có quá trình buôn bán thuận tiện nhất, nhanh nhất sẽ
chiến thắng trong cạnh tranh. Để thực hiện được việc bán hàng nhanh nhất và thuận
tiện nhất phải sử dụng một loạt các biện pháp sau:
- Ký kết hợp đồng nhanh và thuận tiện.
- Diều kiện bán hàng nhanh và thuận tiện.
- Thủ tục thanh toán nhanh.
- Các hoạt động sau khi bán phong phú.
Song vấn đề chính là tạo lâp được uy tín giữa người mua và người bán. Làm tổt
được công tác này sẽ tạo điều kiện cơ bản cho công tác tiêu thụ đư
ợc hoàn thiện.
1.4.Các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
1.4.1.Nhân tố bên trong.
1.4.1.1. Nguồn nhân lực .
Nhân lực là yếu tố quan trọng nhất của sản xuất kinh doanh, được chia làm
các cấp khác nhau. Quản trị viên cấp cao có ảnh hưởng rất lớn đến các quyết định
quản lý của doanh nghiệp.Đội ngũ quản lý cấp doanh nghiệplà những người quản lý
chủ chốt nếu như có kinh nghiệm công tác, phong cách quản lý, khả năng ra quyết
định, khả năng xây dựng e kíp quản lý và sự hiểu biết về kinh doanh thì doanh nghiệp
đó sẽ có nhiều thuận lợi . Đội ngũ công nhân cũng ảnh hưởng tới sức cạnh tranh của
doanh nghiệp thông qua các yếu tố về năng suất lao động, trình độ tay nghề ,ý thức
trách nhiệm, kỹ thuật lao động và sáng tạo của họ.
1.4.1.2. Khả năng tổ chức quản lý.
Khả năng tổ chức quản lý được thể hiện thông qua cơ cấu tổ chức , bộ máy quản
trị, hệ thống thông tin quản lý , bầu không khí đặc biệt nề nếp hoạt động của doanh
nghiệp.
Nề nếp tổ chức định hướng cho phần lớn công việc trong doanh nghiệp. Nó ảnh
hưởng tới phương thức thông qua quyết định của nhà quản trị, quản điểm của họ đối
với các chiến lược điều kiện môi trường của doanh nghiệp. Nề nếp của tổ chức là
tổng hợp các kinh nghiệm, cá tính và bầu không khí làm việc của doanh nghiệp mà
khi liên kết với nhau tạo thành : “ Phương thức mà chung ta hoàn thành công việc ở
đó”. Do vậy, doanh nghiệp cần phải xây dựng được một nề nếp tốt, khuyến khích
nhân viên tiếp thu được các chuẩn mực đạo đức và thái độ tích cực.
1.4.1.3.Nguồn lực về tài chính .
Khả năng tài chính khẳng định chính đáng sức mạnh cạnh tranh của doanh
nghiệp trên thị trường. Khả năng tài chính được hiểu là quy mô tài chính của doanh
nghiệp và tình hình hoạt động, các chỉ tiêu tài chính hàng năm như hệ số thu hồi vốn,
khả năng thanh toán. Nếu như một doanh nghiệp có tình trạng tài chính tốt , khả năng
huy động vốn là lớn sẽ cho phép doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới
công nghệ và máy móc thiết bị đồng thời khả năng hợp tác đầu tư vốn liên doanh
liên kết. Tình hính sử dụng vốn cũng sẽ quyết định ci phí về vốn của doanh nghiệp so
với đối thủ cạnh tranh.
1.4.1.4Hoạt động Marketing.
Nên kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt đòi hỏi mỗi doanhg nghiệp
không thể không có hoạt động Marketinh. Bộ phận quản lý Marketinh phân tích các
nhu cầu thị hiếu, sở thích của thị trường và hoạch định với các chiến lược hữu hiệu
về sản phẩm, giá cả, giao tiếp và phân phối phù hợp với thị trường mà doanh nghiệp
tạo ra những sản phẩm phù hợp với những thị hiếu của người tiêu dùng với mức giá
linh hoạt trước những biến động của thị trường, tạo ra mạng lưới phân phối với số
lượng, phạm vi và mức độ kiểm soát phù hợp đưa sản phẩm được đến tay người tiêu
dùng nhanh nhất Marketinh kích thích tiêu thụ sản phẩm bằng nhiều hình thức khác
nhau như quảng cáo, khuyến mại, dịch vụ sau khi bán hàng và hướng dẫn sử dụng
cho khách hàng. Như vậy công tác Marketinh luôn ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của
doanh nghiệp trên thị trường.
1.4.1.5.Công nghệ và nguồn lực vật chất.
Tình trạng trình độ máy móc, thiết bị và công nghệ có ảnh hưởng một cách
mạnh mẽ tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Nó là yếu tố vật chất quan trọng
bậc nhất thể hiện năng lực sản xuất của một doanh nghiệp và tác động trực tiếp đến
chất lượng sản phẩm, tạo điều kiện hạ giá thành sản phẩm cho doanh nghiệp. Một
doanh nghiệp có hệ thống trang thiết bị máy móc hiện đại, công nghệ sản xuất tiên
tiến thì sản phẩm của doanh nghiệp đó nhất định sẽ có chất lượng cao, mẫu mã đặc
sắc,năng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm và ngược lại.
1.4.1.6.Giá cả.
Đây là yếu tố quyết định sức mua sản phẩm của người tiêu dùng. Đáp ứng nhu
cầu thị hiếu người tiêu dùng không chưa đủ mà họ còn phải phù hợp với túi tiền của
họ. Mỗi doanh nghiệp chỉ có một giới hạn nhất định trong mua sắm. Điều quan trọng
đối với doanh nghiệp là làm sao phải đáp ứng đúng thị hiếu và túi tiền của họ. Nó
phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Bản thân sản phẩm: đuợc gọi là giá thành sản phẩm hay chi phí cấu thành
nên sản phẩm vât chất thuần túy.
-Dịch vụ sản phẩm mang lại : Dịch vụ yếu tố quyết định hướng tới giá trị sản
phẩm nên cũng ảnh hưởng tới giá trị theo chiều tỷ lệ thuận như nhãn hiệu uy tín sản
phẩm , thương hiệu sản phẩm.
Giá cả là một yếu tố có sức lôi cuốn khách hàng, tuy nhiên người tiêu dùng
vẫn sẵn sàng mua những sản phẩm giá cao hơn nhưng chất lượng cao hơn và mẫu
mã đẹp hợn.
1.4.2. Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô.
1.4.2.1. Nhân tố kinh tế.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến mức thu nhập của dân cư
vì vậy mà quyết định đến khả năng thanh toán của họ. Khi tốc độ tăng trưởng kinh tế
cao đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng sản phẩm, dich vụ
để thỏa mãn nhu cầu cao lên của dân cư.
- Tỷ giá hối đoái : Là tỷ giá giữa đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ. Khi tỷ giá
này thay đổi sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đặc
biệt trong nền kinh tế mở như hiện nay.
- Lãi suất cho vay của ngân hàng : Với các doanh nghiệp hạn chế về vốn và
phải vay các ngân hàng thì lãi suất cho vay sẽ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp. Khi tỷ lệ lãi suất cao sẽ làm cho chi phí trả lãi tiền vay của doanh
nghiệp tăng lên và làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Do đó vậy sẽ làm giảm khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ nhất là các đối thủ có tiềm lực
về vốn lớn.
1.4.2.2.Nhân tố chính trị - pháp luật .
Tác động đến môi trường kinh doanh theo các hướng khác nhau chúng có thể
tạo ra lợi thế, trợ ngại thấm chí rủi ro cho các doanh nghiệp. Một thể chế chính trị ,
pháp luật rõ ràng rộng mở và ổn định sẽ là cơ sở đảm bảo sự thuận lợi bình đẳng cho
các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh có hiệu quả.
1.4.2.3. Nhân tố khoa học công nghệ.
Có vai trò quyết định đến hai yếu tố cơ bản nhất nên khả năng cạnh tranh của
sản phẩm trên thị trường trên thị trường đó là chất lượng và giá bán. Ap dụng khoa
học kỹ thuật hiện đại sẽ nâng cao năng suất lao động , giảm chi phí cá biệt của doanh
nghiệp qua đó tạo nên khả năng cạnh tranh của sản phẩm nói riêng và của doanh
nghiệp nói chung. Hiện nay, các sản phẩm được người tiêu dùng đánh giá cao là
những sản phẩm chứa hàm lượng khoa học công nghệ cao. Đó là những sản phẩm
độc đáo về chất lượng, mẫu mã và mang lại tính tiện dụng cho người tiêu dùng cho
người tiêu dùng với một mức giá phù hợp.
1.4.2.4. Nhân tố văn hóa xã hội.
Mỗi vùng địa phương khác nhau trong nước hay các quốc gía khác nhau thì
đều có những phong tục tập quán, thói quen tiêu dùng khác nhau. Do đó tạo ra cơ cấu
nhu cầu tiêu dùng trên thị trường khác nhau, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có chính
sách sản phẩm và chính sách tiêu thụ phù hợp. Tuy nhiên việc phân đoạn thị trường
và áp dụng các chính sách cạnh tranh khác nhau này đòi hỏi doanh nghiệp phải bỏ ra
một lượng chi phí lớn vì vậy nó làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét