Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

hoàn thiện chính sách thuế nhập khẩu góp phần phát triển kinh tế lào để làm luận văn thạc sỹ của mình trong khoá học tại việt nam


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "hoàn thiện chính sách thuế nhập khẩu góp phần phát triển kinh tế lào để làm luận văn thạc sỹ của mình trong khoá học tại việt nam": http://123doc.vn/document/1054180-hoan-thien-chinh-sach-thue-nhap-khau-gop-phan-phat-trien-kinh-te-lao-de-lam-luan-van-thac-sy-cua-minh-trong-khoa-hoc-tai-viet-nam.htm


hàng hóa giữa các quốc gia. Nhờ có công cụ này nhà nước có thể điều chỉnh
các hoạt động thương mại quốc tế phù hợp với định hướng phát triển kinh tế –
xã hội của quốc gia trong một thời kỳ nhất định. Thuế nhập khẩu là thuế đánh
vào hàng hóa nhập khẩu. Loại thuế này được áp dụng khá phổ biến trên thế
giới.
@ - Bản chất của thuế nhập khẩu thể hiện trên hai phương diện:
Về mặt kinh tế: thuế nhập khẩu thực chất là một phần của cải xã hội
được tập trung vào NSNN nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Nó là
khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân có tham gia vào hoạt động
nhập khẩu. Thuế nhập khẩu là thuế gián thu nên người chịu thuế là người tiêu
dùng. Tuy nhiên khi nhà nước tăng thuế suất thì ảnh hưởng đầu tiên là tới các
tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa bởi hàng hóa của họ trở nên đắt đỏ hơn,
kém sức cạnh tranh hơn. Do đó, việc động viên thuế nhập khẩu phải có giới
hạn. Mức thuế suất hợp lý sẽ có tác dụng tăng thu cho NSNN và kích thích
sản xuất, kinh doanh phát triển. Mức thuế suất quá cao sẽ dẫn tới tình trạng
trốn thuế, lậu thuế. Tìm được một mức thuế suất thích hợp cho từng thời kỳ là
một bài toán khó cho các nhà hoạch định chính sách.
Về mặt xã hội : thuế nhập khẩu phản ánh mối quan hệ giữa nhà nước
và các pháp nhân, thể nhân tham gia vào hoạt đọng nhập khẩu hàng hóa. Nó
là một công cụ được nhà nước sử dụng để thực hiện chức năng quản lý của
mình đối với các họat động kinh tế đối ngoại, điều chỉnh các quan hệ phân
phối, phân phối lại thu nhập xã hội giữa các tổ chức, cá nhân và Nhà nước.Vì
vậy, thuế nhập khẩu mang tính xã hội cao. Nghiên cứu bản chất xã hội của
thuế nhập khẩu giúp chúng tôi quán triệt đầy đủ và sâu sắc yêu cầu trong việc
hoạch định chính sách thuế nhập khẩu phải bảo đảm rõ ràng, đơn giản, dễ
hiểu, mang tính phổ thông, phù hợp với trình độ của cả người thu thuế và
5
người nộp thuế. Việc tổ chức quản lý thu thuế cũng phải bảo đảm tính minh
bạch. Công khai, dân chủ mới đem lại hiệu quả cao.
1.1.3 - Vai trò của thuế nhập khẩu trong nền kinh tế thị trường:
Là một loại thuế gián thu, thuế nhập khẩu là một công cụ chính sách
ngoại thương, được nhà nước sử dụng để quản lý hoạt động nhập khẩu của
một nước, nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Là những sắc thuế trong hệ thống thuế quốc gia cho nên thuế nhập
khẩu cũng có vai trò của thuế nói chung là tạo nguồn thu cho NSNN và điều
tiết vĩ mô nền kinh tế. Tuy nhiên, dưới giác độ là một sắc thuế cụ thể thì thuế
nhập khẩu cũng thể hiện những vai trò riêng có của nó.
Một là, thuế nhập khẩu tạo nguồn thu cho NSNN.
Để thực sự phát huy vai trò tạo nguồn thu NSNN, thuế nhập khẩu phải
bao quát hết các hoạt động kinh doanh nhập khẩu của các tổ chức, cá nhân,
đảm bảo thu đúng, thu đủ và nộp kịp thời tiền thuế nhập khẩu vào NSNN.
Thông qua thuế nhập khẩu, nhà nước huy động một phần thu nhập quốc dân
được tạo ra từ hoạt động nhập khẩu hàng hóa để tập trung vào NSNN. Tuy
nhiên, nếu Nhà nước dùng quyền lực của mình để huy động quá mức thì các
tổ chức, cá nhân kinh doanh nhập khẩu sẽ không kinh doanh nữa hoặc chuyển
sang kinh doanh ngầm để trốn thuế làm Nhà nước bị thất thu thuế. Vì vậy, khi
tái phân phối thu nhập bằng thuế nhập khẩu phải chú ý đến khả năng nộp thuế
của các tổ chức, cá nhân này. Khả năng nộp thuế phản ánh số thuế tối đa mà
các tổ chức, cá nhân kinh doanh nhập khẩu có thể nộp mà không ảnh hưởng
hoặc thay đổi hoạt động kinh doanh của họ. Khả năng nộp thuế tuỳ thuộc vào
trình độ phát triển kinh tế, ý thức chấp hành pháp luật, truyền thống văn hóa
của mỗi quốc gia.
Hai là, thuế nhập khẩu là một công cụ tài chính được nhà nước sử dụng
để kiểm soát và điều tiết hoạt động nhập khẩu hàng hóa.
6
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa
diễn ra ở hầu khắp các nước. Hàng hóa ngày càng đa dạng về hình thức và
chủng loại. Có hàng hóa phục vụ an ninh quốc phòng, có hàng hóa tiêu dụng
thiết yếu, có hàng hóa xâm hại đến chủ quyền an ninh quốc gia và đời sống
của nhân dân như ma tuý, vũ khí, văn hóa phẩm đồi trụy…Vì vây, thông qua
việc kiểm tra, thu thuế đối với hàng hóa nhập khẩu. Có thể nắm được tên của
mặt hàng số lượng là bao nhiêu, nhập khẩu từ nước nào. Qua đó, nhà nước
kiểm soát được toàn bộ các loại hàng hóa nhập khẩu để có những chính sách
phù hợp với thực tiễn.
Để điều tiết hoạt động nhập khẩu hàng hóa, ngoài các biện pháp phi
thuế như hạn ngạch, giấy phép v.v…Thì biện pháp sử dụng công cụ thuế nhập
khẩu áp dụng khá phổ biến. Đối với nguyên liệu nhập khẩu cần cho sản xuất
trong nước mà trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng
chưa đáp ứng đủ nhu cầu thì nhà nước quy định mức thuế suất thuế nhập khẩu
thấp, thậm chí là 0% để khuyến khích nhập khẩu phục vụ sản xuất trong nước.
Đối với những sản phẩm mà trong nước đã sản xuất được đủ đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng hoặc những sản phẩm tiêu dùng cao cấp (xi măng, sắc ) thuế suất
thuế nhập khẩu thường quy định ở mức cao để hạn chế nhập khẩu và hạn chế
tiêu dùng. Như vậy, thông qua công cụ thuế nhập khẩu, nhà nước thực hiện
việc điều tiết đối với hoạt động nhập khẩu hàng hóa.
Ba là, thuế nhập khẩu bảo hộ sản xuất trong nước.
Chúng ta biết rằng, khối lượng hàng hóa nhập khẩu phụ thuộc vào sức
mua của thị trường. Sức mua của thị trường phụ thuộc vào giá cả hàng hóa.
Khi giá cả hàng hóa tăng giảm còn ảnh hưởng làm giảm tăng khả năng cạnh
tranh của hàng hóa trên thị trường. Thuế nhập khẩu là một bộ phận cấu thành
giá cả hàng hóa nhập khẩu. Vì thế, thuế nhập khẩu đấnh thấp hay cao có ảnh
hưởng đến khả năng cạnh tranh của hàng hóa. Đối với những hàng hóa nhập
7
khẩu là những sản phẩm mà trong nước đã sản xuất được hoặc những mặt
hàng cần bảo hộ, Nhà nước đánh thuế nhập khẩu cao sẽ hạn chế tiêu dùng
hàng nhập khẩu, khuyến khích tiêu dùng sản phẩm trong nước. Trong điều
kiện đó, hàng sản xuất trong nước sẽ có điều kiện cạnh tranh qua giá với hàng
nhập khẩu. Khi đánh thuế nhập khẩu hàng tiêu dùng ở mức thấp, tức là Nhà
nước không hạn chế nhập khẩu mặt hàng đó, người tiêu dùng sẽ được hưởng
lợi thông qua việc tiêu dùng hàng nhập khẩu với chất lượng cao, mẫu mã đẹp,
giá lại rẻ. Đồng thời, với mức thuế nhập khẩu thấp sẽ trực tiếp thúc đẩy các
doanh nghiệp cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ, kiện toàn tổ chức, cải tiến
mẫu mã, hạ giá thành sản phẩm để nâng cao khả năng cạnh tranh với hàng
ngoại nhập nếu muốn tồn tại và phát triển. Đối với hàng hóa là đầu vào của
các ngành sản xuất trong nước, hàng là máy móc thiết bị phục vụ sản xuất
trong nước, việc đánh thuế nhập khẩu thấp sẽ có tác động trực tiếp đến chi phí
đầu vào của giá thành sản phẩm. Với giá thành sản phẩm giảm (do thuế nhập
khẩu thấp) sẽ giúp cho doanh nghiệp có điều kiện đổi mới công nghệ để nâng
cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản xuất, từ đó nâng cao khả năng cạnh
tranh của hàng sản xuất trong nước. Như vậy, thông qua công cụ thuế nhập
khẩu, nhà nước thể hiện quan điểm bảo hộ sản xuất trong nước, định hướng
tiêu dùng và thu hút đầu tư. Tuỳ thuộc vào mức độ bảo hộ sản xuất trong
nước, các nước có thể thực hiện các hình thức đánh thuế như:
- Thuế quan vừa đủ là loại thuế quan mà mức thuế suất chỉ vừa đủ cao
cho phép các nhà sản xuất nội địa bù đắp chi phí và có lợi nhuận bình thường
mức độ bảo hộ thấp.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập kinh tế, do bị ràng buộc phải thực
hiện các cam kết quốc tế về cắt giảm thuế nhập khẩu, vai trò bảo hộ của thuế
nhập khẩu phần nào bị hạn chế. Hơn nữa, nếu quá nhấn mạnh đến vai trò bảo
hộ của thuế nhập khẩu thì không những không thực hiện được các cam kết
8
quốc tế mà còn làm cho sản xuất trong nước bị đình trệ kém phát triển do ỷ lại
vào sự bảo hộ của Nhà nước. Vì vậy, để phát huy tốt vai trò bảo hộ của thuế
nhập khẩu buộc phải có sự lựa chọn những ngành nghề cần bảo hộ, mức độ
bảo hộ và thời hạn bảo hộ sao cho phù hợp với tình hình thực tiễn của đất
nước, đồng thời buộc các ngành được bảo hộ phải có chiến lược đầu tư đổi
mới công nghệ, cải tiến phương thức quản lý để nâng cao chất lượng sản
phẩm, hạ giá thành, chủ động cạnh tranh với hàng nhập khẩu khi hết thời hạn
bảo hộ.
1.2. Chính sách thuế nhập khẩu
1.2.1 - Nội dung cơ bản của chính sách thuế nhập khẩu
Tuy mỗi nước có một chính sách thuế nhập khẩu riêng nhưng về cơ bản
vẫn có một số nội dung được đề cập giống nhau. Những nội dung đó là:
A) Đối tượng chịu thuế nhập khẩu: là hàng hóa được phép nhập khẩu
qua cửa khẩu biên giới.
Trong Luật thuế nhập khẩu mỗi nước đều có quy định cụ thể về phạm
vi đối tượng chịu thuế nhập khẩu. Như ở Lào cũng có quy định như sau:
+ Mọi hang hóa được phép nhập khẩu qua cửa khẩu biên giới Lào,
đều là đối tượng chịu thuế nhập khẩu bao gồm:
- Hang hóa nhập khẩu của các tổ chức kinh tế Lào thuộc các thành phần
kinh tế được phép mua bán trao đổi, vay nợ với nước ngoài.
- Hàng hóa nhập khẩu của các tổ chức kinh tế nước ngoài, các hình
thức đầu tư nước ngoài tại Lào.
- Hàng hóa vượt quá tiêu chuẩn hành lý được miễn thuế mang theo
người của cá nhân Lào và người nước ngoài khi nhập cảnh qua cửa khẩu, biên
giới Lào.
9
- Hàng là quà biếu, quà tặng vượt quá tiêu chuẩn miễn thuế của các tổ
chức, các nhân ở nước ngoài, người Lào định cư ở nước ngoài mang hoặc gửi
về cho các tổ chức, cá nhân ở Lào và ngược lại.
- Hàng hóa nhập khẩu vượt quá tiêu chuẩn miễn thuế của các tổ chức
quốc tế, cơ quan ngoại giao nước ngoài tại Lào và các cá nhân nước ngoài
làm việc tại các tổ chức nói trên hiặc tại các thanh thức đầu tư nước ngoài tại
Lào.
Ngoài ra, Lào cũng có quy định về đối tượng không chịu thuế nhập
khẩu. Thông thường đó là các hàng hóa sau:
+ Hàng vận chuyển quá cảnh hoặc mượn đường qua biên giới Lào trên
cơ sở hiệp định ký kết giữa các Chính phủ hoặc ngành, địa phương được Thủ
tướng Chính phủ phép.
+ Hàng chuyển khẩu bao gồm:
- Hàng hóa được chuyển thẳng từ cửa khẩu nước xuất khẩu đến cửa
khẩu nước nhập khẩu không đến cảng nội địa.
- Hàng hóa được chở đến cửa khẩu nội địa nhưng không làm thủ tục
nhập khẩu mà đi luôn tới cửa khẩu nước nhập khẩu.
- Hàng viên trợ nhân đạo của các tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ.
Như vậy, đối tượng chịu thuế nhập khẩu đa dạng. Trừ một số mặt hàng
mà Nhà nước không cho phép xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu vì có thể
gây tác động tiêu cực đến an ninh quốc gia và đời sống văn hóa xã hội, còn lại
mọi loại mặt hàng đều có thể là hàng hóa chịu thuế nhập khẩu.
B) Giá tính thuế: hay trị giá hải quan là trị giá của hàng hóa nhập
khẩu được xác định theo mục đích quản lý của cơ quan hải quan.
Việc xác định đúng trị giá hàng hóa không chỉ có ảnh hưởng trực tiếp
tới quan hệ thương mại, ngoại giao giữa các nước. Có hai trường phái chính
trong việc xác định trị giá hàng hóa:
10
- Trường phái áp dụng phương pháp xác định trị giá hàng nhập khẩu
theo trị giá GATT. Những nước theo trường phái này quy định trị giá để tính
thuế hàng nhập khẩu là trị giá thực. Trị giá thực được hiểu là trị giá ghi trong
hóa đơn thương mại (giá thỏa thuận trong điều kiện cạnh tranh lành mạnh ghi
trong hợp đồng mua bán ngoại thương) cộng thêm các khoản chi phí hợp lý,
hợp pháp chưa được tính vào trị giá, Ví dụ: chi phí hoa hồng và môi giới, chi
phí thuê công-ten-nợ…những nước áp dụng trị giá GATT thường quy định rõ
trong Luật pháp của mình phương pháp xác định trị giá thực. Căn cứ pháp lý
cơ bản để xem xét trị giá thực là hợp đồng mua bán ngoại thương. Đơn vị
kinh doanh hàng hóa nhập khẩu phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính trung
thực của mức giá ghi trên hợp đồng. Mọi gian lận nếu bị phát hiện đều bị xử
phạt rất nặng. Thông thường những nước áp dụng trị giá này là những nước
phát triển, nơi mà hệ thống Luật pháp tương đối ổn định, người dân có ý thức
pháp luật cao, hệ thống thanh toán hiện đại. Ưu điểm của hình thức này là
hoàn toàn phù hợp với các chuẩn mực của thương mại tự do, được luật pháp
quốc tế hóa bằng việc tổ chức GATT ban hành Hiệp định vì chị giá hải quan
theo GATT. Áp dụng hình thức này, đơn vị nhập khẩu sẽ dự tính trước được
số thuế phải nộp, qua đó chủ động trong khâu tính toán, lập kế hoạch kinh
doanh. Tuy nhiên, việc áp dụng hình thức này cũng đòi hỏi đội ngũ cán bộ hải
quan phải được đào tạo kỹ càng, chi phí quản lý thuế cao vì việc quản lý sẽ
phức tạp. Nếu quản lý không tốt, đơn vị nhập khẩu có thể thông đồng với
nhau khai thấp trị giá tính thuế, gây thất thu cho NSNN và dẫn đến hiện tượng
gian lận thương mại qua giá.
- Trường phái áp dụng bảng giá tối thiểu. Khác với trị giá thực là trị giá
thực tế thanh toán hoặc sẽ phải thanh toán theo mức giá được thỏa thuận trong
điều kiện cạnh tranh lành mạnh và được ghi trong hợp đồng mua bán ngoại
thương, giá tối thiểu được xác định căn cứ vào giá trị hàng hóa được sản xuất
11
trong nước nhập khẩu hoặc trị giá hư cấu, áp đặt. Những nước áp dụng giá tối
thiểu thường quy định nếu mức giá ghi trên hợp đồng mà thấp hơn mức giá
trong bảng giá tối thiểu được Nhà nước quy định thì phải áp dụng giá ghi
trong bảng giá tối thiểu. Việc áp dụng hình thức này thường diễn ra ở những
nước đang phát triển, hệ thống Luật pháp chưa ổn định. Ý thức Luật pháp của
người dân chưa cao, thường trốn thuế bằng cách ghi thấp giá trị trong hợp
đồng. Áp dụng hình thức này chính là một biện pháp phi thuế quan giúp các
nước này tăng số thu nhưng không phải tăng thuế suất – một biện pháp dễ bị
trả đũa. Nhưng việc áp dụng hình thức này khiến chính sách thuế không minh
bạch, rõ ràng, không thể dự đoán được. Ngoài ra, nếu việc định giá giá tối
thiểu không được cập nhật thường xuyên dựa trên các thông tin điều tra về thị
trường sẽ dẫn đến hiện tượng dịnh gía tối thiểu quá cao hoặc quá thấp so với
giá thực tế, gây khó khăn cho người nhập khẩu hoặc thất thu NSNN.
1.2.2 -Vị trí của chính sách thuế nhập khẩu:
Chính sách thuế nhập khẩu là một hệ thống các quan điểm, mục tiêu và
các công cụ, biện pháp thích hợp mà nhà nước sử dụng để can thiệp, điều tiết
hoạt động nhập khẩu hàng hóa của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định
phù hợp với định hướng, mục đích đã định trong chiến lược phát triển kinh tế
– xã hội của quốc gia đó. Chính sách thuế nhập khẩu cũng nhằm xây dựng
hành lang pháp lý giúp cho các cá nhân, đơn vị có hoạt động nhập khẩu hàng
hóa có khả năng dự đoán trước và điều chỉnh hành vi kinh doanh của mình.
Chính sách thuế nhập khẩu là một bộ phận của chính sách kinh tế
chung của quốc gia, có quan hệ chặt chẽ và phục vụ phát triển kinh tế. Nó tác
động mạnh mẽ đến quá trình tái sản xuất. Phân phối, chuyển dịch cơ cấu kinh
tê của đất nước đến quy mô và phương thức tham gia của nền kinh tế mỗi
nước vào phân công lao động quốc tế và thương mại quốc tế. Chính sách thuế
nhập khẩu cũng là một bộ phần của chính sách thương mại quốc tế của nhà
12
nước. Mức độ can thiệp của nó vào nền kinh tế nhiều hay ít phụ thuộc vào
chính sách thương mại quốc tế là tự do hay bảo hộ. Khi hoạt động trao đổi
hàng hóa giữa các quốc gia ngày càng phong phú thì chính sách thuế nhập
khẩu của một nước còn có thể có những tác động nhất định đến nền kinh tế
của một nước khác. Đồng thời nó tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà sản xuất
kinh doanh trong nước xác lập lợi ích kinh tế của họ ở nước ngoài trên các
lĩnh vực tiêu thụ hàng hóa, đầu tư…
Chính sách thuế nhập khẩu có thể tạo nên các tác động tích cực khi nó
có cơ sở khoa học và thực tiễn, tức là nó xuất phát từ các bối cảnh khách quan
của nền kinh tế thế giới, chú ý đến đặc điểm và trình độ phát triển của nền
kinh tế trong nước, tuân theo các quy luật khách quan trong sự vận động của
các quan hệ kinh tế quốc tế và thường xuyên được bổ sung, hoàn chỉnh phù
hợp với những biến đổi mau lẹ của thực tiễn.
Mục tiêu phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn có
những nét khác biệt, cho nên chính sách thuế nhập khẩu cũng thay đổi để đạt
được những mục tiêu cụ thể của chính sách kinh tế. Nhưng nhìn chung chính
sách thuế nhập khẩu phải có tác dụng bảo vệ sản xuất trong nước, chống lại
sự cạnh tranh từ bên ngoài, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước phát
triển và hướng ra bên ngoài.
1.3. Tác động của chính sách thuế nhập khẩu đến hoạt động kinh tế
1.3.1 - Thuế tác động đến tăng trưởng kinh tế
Trong thời kỳ đổi mới, kinh tế Lào có tốc độ tăng trưởng khá. Đồng
thời với đổi mới kinh tế, Nhà nước đẩy mạnh cải cách thuế, chính sách thuế
nhập khẩu phù hợp đã tác động mạnh mẽ đến sự tăng trưởng và định hướng
phát triển kinh tế thị trường. Thuế tham gia tích cực vào điều hành kinh tế vĩ
mô, chuyển dịch nhuồn lực đầu tư kinh tế vào các lĩnh vực then chốt; chuyển
dịch đầu tư vào khai thác lợi thuế của các vùng kinh tế ở khắp miền đất nước;
13
thúc đẩy hình thành cơ cấu kinh tế theo xu hướng công nghiệp hóa - hiện đại
hóa…
Về tăng trưởng kinh tế Lào, có thể đánh giá chung là, trong những năm
qua sản xuất phát triển, lưu thông hàng hóa thông thoáng, giá cả ổn định dần.
Nền kinh tế tăng trưởng tương đối cao, cơ cấu chuyển dịch tích cực. Tính
chung 5 năm 2000 – 2005, tổng sản phẩm trong nước tăng 22,5%, bình quan
mỗi năm tăng 5%. Trong đó: năm 2000 tăng 2,5%, 2001 tăng 3,7%, 2002 tăng
4,2%, năm 2003 tăng lên 6%.
1.3.2 - Thuế tác động tăng thu ngân sách
Trong công tác thuế có nhiệm vụ trọng tâm, nỗ lực phấn đấu hoàn
thành vượt mức nhiệm vụ thu NSNN. Nhà nước đã đặt ra các thứ thuế để bắt
buộc các thành viên trong xã hội đóng góp một phần sản vật và thu nhập của
họ cho Nhà nước mới tồn tại và họat động được. Như vậy, ngay từ buổi khai
sơ, thuế đã được sử dụng với mục tiêu quan trọng là tập trung thu nhập vào
tay Nhà nước. Lịch sử tồn tại và phát triển của thuế qua các thời kỳ và ở các
nước cũng đã cho thấy: Tỷ trọng thu bằng thuế thường chiếm phần lớn trong
các tổng thu nhập của NSNN. Hiện nay ở hầu hết các nước trên thế giới, sau
khi thực hiện cải cách hệ thống thuế, số thu bằng thuế, phí chiếm tới trên 90%
tổng số thu NSNN.
1.4. Cải cách chính sách thuế nhập khẩu của các nước và bài học kinh
nghiệm cho Lào.
1.4.1 - Cải cách chính sách thuế của Việt Nam
1.4.1.1 - Chính sách tổ chức quản lý hoạt động nhập khẩu:
Về cơ bản, nhà nước Việt Nam vẫn tiếp tục thực hiện nhất quán chính
sách tổ chức và quản lý hoạt động nhập khẩu. Nét nổi bật trong chính sách
kinh tế đối ngọai giai đọan này là bước đầu thực hiện các cam kết quốc tế
song phương và đa phương, chủ yếu ở cấp độ khu vực và liên khu vực như
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét