LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "các giải pháp cần thiết đối với quá trình giải quyết công nợ tại công ty quan hệ quốc tế đầu tư sản xuất": http://123doc.vn/document/1054449-cac-giai-phap-can-thiet-doi-voi-qua-trinh-giai-quyet-cong-no-tai-cong-ty-quan-he-quoc-te-dau-tu-san-xuat.htm
Công nợ phải trả là một bộ phận tài sản thuộc nguồn vốn của doanh
nghiệp đợc tài trợ từ các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác mà doanh
nghiệp có trách nhiệm phải hoàn trả.
b. Nội dung công nợ phải trả:
Các khoản tiền vay.
Phải trả cho ngời bán.
Ngời mua ứng trớc.
Phải trả công nhân viên.
Các khoản phải nộp ngân sách
Các khoản phải trả nội bộ doanh nghiệp.
Nhận ký cợc ký quỹ dài hạn
Phải trả, phải nộp khác.
Nội dung cụ thể của các khoản này nh sau:
Các khoản tiền vay: các khoản tiền vay ở đây bao gồm các khoản
tiền vay của ngân hàng, các tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế và cá nhân để bổ
sung vốn cho nhu cầu vốn kinh doanh.
+Vay ngắn hạn: Là những khoản tiền vay có thời hạn thanh toán trong
vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh nhằm đáp ứng về vốn lu động.
Mục đích:
Bổ sung vốn lu động.
Mua sắm vật t, hàng hoá dự trữ.
Vay thanh toán nợ cho nhà cung cấp.
Vay để trả nợ vay đến hạn, quá hạn.
Tiền trả vay và lãi vay là tiền lu động của doanh nghiệp, thơng doanh
nghiệp có khả năng trả nợ từ các khoản:
Tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển địa điểm sử dụng khả
năng trả vay tức thời.
Nợ thu đến hạn, quá hạn, trong hạn.
Doanh thu, thu trực tiếp trả vay.
Vay ngắn hạn mới để trả vay.
6
Luận văn tốt nghiệp Chu Thị Hợp - K36D2
Vay dài hạn: Là khoản tiền vay có thời hạn thanh toán trên một năm
hoặc sau một chu kỳ kinh doanh để đầu t dài hạn cho việc mua sắm TSCĐ,
XDCB, đầu t tài chính dài hạn vào thị trờng chứng khoán
Các khoản vay dài hạn thờng đợc thanh toán bằng các khoản nợ dài hạn
mới phát sinh hay bằng kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Do hoạt động vay dài hạn của các doanh nghiệp bao hàm nhiều rủi ro
hơn hoạt động vay ngắn hạn nên lãi suất của hoạt động vay dài hạn thờng cao
hơn hoạt động cho vay ngắn hạn.
Phải trả ngời bán: Là toàn bộ giá trị hàng hoá, nguyên vật liệu, lao
vụ, dịch vụ mà doanh nghiệp mua chịu, đã nhận hàng nhng cha thanh toán
tiền.
Đây cũng chính là chính sách u đãi trong việc thanh toán tiền hàng của
các doanh nghiệp bán hàng cho doanh nghiệp. Do doanh nghiệp bán chịu
hàng hoá nên hình thành nên các khoản phải thu. Bên cạnh đó doanh nghiệp
cũng mua chịu hàng hoá của các doanh nghiệp bán hàng cho doanh nghiệp
hình thành nên các khoản nợ phải trả. Trong nền kinh tế thị trờng đây là một
xu thế tất yếu không thể tránh khỏi.
Ngời mua ứng trớc : Doanh nghiệp nhận tiền của khách hàng nhng
cha giao hàng
Phải trả công nhân viên : Là các khoản tiền doanh nghiệp phải trả
cho công nhân viên nh tiền lơng, tiền công, tiền thởng, các khoản bảo hiểm xã
hội và các khoản thu nhập khác của ngời lao động.
Các khoản phải nộp ngân sách nhà nớc:
Thuế GTGT: Là loại thuế gián thu tính trên phần giá trị tăng thêm của
hàng hóa,dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lu thông đến tiêu dùng.
Thuế tiêu thụ đặc biệt: Là loại thuế gián thu đánh vào một số hàng
hoá dịch vụ nhất định thuộc một trong hai nhóm sau:
Những hàng hoá-dịch vụ Nhà Nớc không khuyến khích sản xuất, nhập
khẩu, tiêu dùng.
Những hàng hoá dịch vụ mà chỉ có những ngời có thu nhập cao mới có
thể sử dụng.
Thuế xuất khẩu, nhập khẩu: Là loại thuế gián thu đánh vào giá trị của
hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu và biên giới Việt Nam.
Thuế xuất khẩu, nhập khẩu là một trong những công cụ quan trọng của
Nhà Nớc để quản lý các hoạt động kinh tế đối ngoại.
7
Luận văn tốt nghiệp Chu Thị Hợp - K36D2
Thuế thu nhập doanh nghiệp: Là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập
chịu thuế của các tổ chức, cá nhân có sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ.
Thuế nhà,đất,thuế môn bài, các loại thuế khác
Thu trên vốn.
Phí, lệ phí và các khoản phải nộp khác.
Các khoản phải trả nội bộ doanh nghiệp:Là các khoản phải trả giữa
đơn vị cấp trên là đơn vị hạch toán kinh tế độc lập với các đơn vị cấp dới là
những đơn vị phụ thuộc hoặc giữa các đơn vị phụ thuộc đều có tổ chức kế toán
riêng.
Các khoản phải trả, phải nộp khác:
Tài sản thừa chờ giải quyết.
Kinh phí công đoàn.
Bảo hiểm xã hội.
Bảo hiểm y tế.
Phải trả, phải nộp khác.
Các khoản tài sản nhận ký cợc ký quỹ:
Là các khoản tiền, tài sản mà doanh nghiệp nắm giữ của đối tác kinh
doanh trong hợp đồng kinh tế nhằm tạo sự tin tởng lẫn nhau giữa các bên quan
hệ trong hợp đồng kinh tế. Mức độ tín nhiệm cao hoặc thấp sẽ quyết định các
hình thức ràng buộc khác nhau phát sinh trong quá trình vay, mợn, ký kết hợp
đồng hợp tác kinh tế.
Bên cạnh việc phân chia công nợ theo nội dung từng khoản phải thu và
phải trả, để tiện cho việc quản lý và theo dõi công nợ thì các nhà quản trị tài
chính có thể phân chia công nợ của doanh nghiệp dựa vào các tiêu thức nh sau:
Thứ nhất là theo tuổi thọ của công nợ:
Theo cách này thì công nợ của doanh nghiệp sẽ bao gồm nợ ngắn hạn
và nợ dài hạn, các khoản phải thu hồi đợc ngay trong chu kỳ kinh doanh và
các khoản phải thu thu hồi đợc sau một chu kỳ kinh doanh. Khi phân loại nh
thế này thì các nhà quản trị tài chính sẽ có biện pháp để thu hồi và trả nợ công
nợ ngắn hạn đồng thời có những biện pháp để thu hồi các khoản công nợ dài
hạn và có kế hoạch tìm các nguồn để trả nợ dài hạn. Và từ các khoản nợ dài
hạn doanh nghiệp sẽ xem xét đợc khả năng thu hồi đợc của các khoản nợ này
để có biện pháp thu hồi tuỳ thuộc vào từng đối tợng nợ có thể là mềm mỏng
8
Luận văn tốt nghiệp Chu Thị Hợp - K36D2
hoặc cứng rắn, nhằm tránh rủi ro, trong trờng hợp cần thiết thì doanh nghiệp
sẽ lập dự phòng các khoản phải thu khó đòi.
Thứ hai là theo khả năng thu hồi công nợ:
Theo cách phân loại này thì kế toán công nợ sẽ biết đợc các khoản nợ
nào sắp đến hạn thanh toán để có những biện pháp chủ động nhằm thu đợc nợ
đúng thời hạn nh gọi điện nhắc nhở trớc cho khách hàng hoặc nếu khách hàng
mua chịu tiếp mà cha thanh toán nợ thì yêu cầu doanh nghiệp phải trả hết nợ
thì mới đợc mua chịu Đặc biệt doanh nghiệp biết khoản nợ nào khó đòi để
doanh nghiệp có biện pháp ứng phó thu hồi phù hợp, tìm hiểu lý do để doanh
nghiệp triệt để hạn chế từ đó quản lý tốt hơn các khoản nợ khó đòi nhằm giảm
thiểu rủi ro.
Thứ ba là theo đối tợng nợ hay là theo khách nợ :
Phân loại các khoản phải thu theo khách nợ nên đợc làm ở các doanh
nghiệp vì khi đó doanh nghiệp sẽ biết rõ đợc tình hình kinh doanh của khách
nợ, xem xét các khoản nợ mà khách nợ nợ nhiều hay ít đồng thời phân tích đ-
ợc vị thế tín dụng của khách hàng giúp doanh nghiệp khi áp dụng chính sách
bán chịu ít gặp phải rủi ro trong thanh toán. Biết rõ khách hàng của mình là ai
thì doanh nghiệp sẽ không bị mất vốn và có biện pháp đế thu hồi công nợ,
không biết thì doanh nghiệp sẽ bị mất vốn.
Ngoài ra tuỳ thuộc vào từng loại hình kinh doanh thì doanh nghiệp nên
phân loại công nợ chi tiết theo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp nhằm có
những biện pháp để theo dõi quản lý công nợ đợc tốt giúp doanh nghiệp thu
hồi đợc các khoản nợ đầy đủ nhanh chóng, chịu chi phí thu hồi công nợ thấp
và hạn chế đợc rủi ro.
Thứ t là theo thời hạn thu hồi công nợ :
Theo cách phân loại này công nợ của doanh nghiệp bao gồm: nợ quá
hạn, nợ khó đòi và nợ sắp đến hạn.
II. Các yếu tố ảnh hởng đến công nợ:
Công nợ trong bất cứ một doanh nghiệp hay một tổ chức kinh tế nào
bao giờ cũng tồn tại những khoản tiền phải thu đối với khách nợ và khoản nợ
phải trả đối với chủ nợ của mình. Đây là mối quan tâm không chỉ của bản thân
doanh nghiệp mà còn là mối quan tâm của các chủ đầu t, các tổ chức tài chính
tín dụng hay các đối tác kinh doanh. Khi xem xét công nợ phát sinh giữa các
chủ nợ và các khách nợ bao giờ cũng gắn liền với các vấn đề: quy mô công nợ,
thời hạn thanh toán, chính sách lãi suất hay chính sách giá cả hàng hóa. Đặc
biệt là để thu hồi đợc đầy đủ, đúng thời hạn các khoản nợ phải thu của doanh
nghiệp thì các nhà quản trị tài chính phải quan tâm đến các yếu tố ảnh hởng
đến công nợ nhằm hạn chế rủi ro và có đợc những biện pháp hữu hiệu đẩy
9
Luận văn tốt nghiệp Chu Thị Hợp - K36D2
nhanh thu hồi các khoản nợ đến hạn và quá hạn. Bên cạnh đó doanh nghiệp
cũng cần phải quan tâm đến việc thanh toán các khoản nợ phải để đảm bảo uy
tín của doanh nghiệp, tạo đợc các mối quan hệ làm ăn bền vững, tăng khả
năng cạnh tranh.
2.1.Các vấn đề liên quan đến công nợ:
Để hiểu đợc công nợ chúng ta phải đi vào xem xét các vấn đề liên quan
đến công nợ, nhằm nâng cao trình độ quản lý công nợ.
2.1.1. Phạm vi và quy mô của công nợ :
-Phạm vi: công nợ có thể phát sinh ở mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực trên
toàn thế giới. ở đâu, ở bất cứ khu vực nào khi có các giao dịch mua và bán, khi
có các nghiệp kinh tế phát sinh, khối lợng hàng hóa đợc trao đổi mua bán thì ở
đó đều có thể phát sinh công nợ. Do vậy phạm vi của công nợ rất lớn nó hiện
hữu trong toàn bộ nền kinh tế. Đôi khi chính công nợ- hay chính sách mua
bán chịu lại kích thích hàng hoá lu thông và duy trì đợc hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp và các thành phần kinh tế, các tổ chức, các cá nhân. Hiện
nay với xu thế hội nhập quốc tế, chính sách buôn bán giữa các quốc gia thông
thoáng hơn, vì vậy công nợ phát sinh không chỉ trong phạm vi lãnh thổ quốc
gia mà đã vợt ra ngoài phạm vi quốc gia. Chính vì vậy các doanh nghiệp cần
chú ý để có thể thu hồi đợc tất cả các khoản công nợ phát sinh của doanh
nghiệp, đảm bảo các khoản thu đợc thu hồi đầy đủ, đúng thời gian, hạn chế
thấp nhất các rủi ro có thể gặp phải khi giao dịch mua bán. Để làm đợc điều
này thì các nhà quản trị tài chính phải đợc trau dồi những kiến thức nhất định
về công nợ, về thơng mại quốc tế. Đối với các khoản phải trả doanh nghiệp
cũng cần phải chú ý là thanh toán đúng thời hạn, tránh để nợ tồn đọng, dây da
kéo dài ảnh hởng đến uy tín của doanh nghiệp trên thơng trờng.
- Quy mô : Trong quan hệ giao dịch mua bán hiện nay hình thức thanh
toán trả chậm chiếm tới 80% trong các giao dịch. Giá trị của từng hoá đơn bán
chịu hay của từng tín dụng thơng mại thể hiện lợng tiền hay tài sản mà các
đơn vị đối tác nợ doanh nghiệp. Quy mô của công nợ phát sinh lớn hay nhỏ
tuỳ thuộc vào tính chất của hàng hoá trên thị trờng. Quy mô của công nợ nói
lên số lợng tiền nợ nhiều hay ít. Trên diện rộng, đối với từng chủ nợ, khách nợ
thì quy mô của công nợ đợc thể hiện là tổng tài sản mà doanh nghiệp nợ các
đối tác và các đối tác và các đơn vị kinh tế khác nợ doanh nghiệp. Bên cạnh đó
thì tiềm lực tài chính cũng quyết định quy mô công nợ và chính sách tín dụng
mà doanh nghiệp áp dụng. Nếu doanh nghiệp cho phép các hoá đơn thanh
toán đợc thanh toán chậm trả nhiều thì quy mô công nợ sẽ lớn và ngợc lại.
10
Luận văn tốt nghiệp Chu Thị Hợp - K36D2
Tiềm lực tài chính của doanh nghiệp mạnh, doanh nghiệp muốn tăng doanh số
bán ra và các hoá đơn đợc thanh toán chậm trả thì quy mô công nợ sẽ ngày
càng tăng. Doanh nghiệp nên áp dụng chính sách tín dụng thơng mại phù hợp
và nghiên cứu kỹ lỡng về khách hàng để chính sách bán chịu không phải chịu
rủi ro và đảm bảo các khoản thu đợc thu hồi nhanh chóng, chi phí thu hồi
công nợ thấp. Tuy nhiên các doanh nghiệp không nên để các đơn vị và các đối
tác kinh doanh chiếm dụng vốn nhiều ảnh hởng đến tình hình tài chính của
doanh nghiệp.
2.1.2. Thời hạn của công nợ:
Thời hạn công nợ là khoảng thời gian kể từ khi doanh nghiệp ký hóa
đơn mua bán chịu đến khi hoá đơn đó đợc thanh toán.
Đây chính là giới hạn thời gian để doanh nghiệp có các biện pháp thu
hồi các khoản nợ phải thu và thanh toán các khoản nợ phải trả. Đối với các
doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh thì trong chính sách tín dụng thơng
mại, để tăng tính hấp dẫn với khách hàng doanh nghiệp có thể gia tăng thời
hạn trả nợ. Nhng khi đó doanh nghiệp phải đầu t lớn vào các khoản phải thu,
nợ kéo dài sẽ tăng, bù lại sẽ thu hút thêm đợc nhiều khách hàng mới, doanh
thu tiêu thụ sẽ tăng lên. Nh vậy một quyết định tăng hay giảm thời hạn bán
chịu cần xem xét cân nhắc kỹ giữa chi phí phải bỏ ra và lợi nhuận đem lại.
Doanh nghiệp nên xác định cho mình một thời hạn công nợ mà có lợi
cho mình nhất nhng đồng thời cũng phải có lợi cho bên thanh toán để công nợ
đợc thu hồi nhanh chóng, đầy đủ hạn chế đợc rủi ro và chi phí để thu hồi công
nợ. Đồng thời phải đẩy mạnh đợc bán ra.
Khi xem xét thời hạn của công nợ chúng ta cần chú ý đến các tiêu thức sau:
- Thời hạn nợ trung bình
- Kỳ hạn trả nợ : tính đến thời gian mà trong thời hạn thanh toán giữa
doanh nghiệp và các đối tác đã đợc thoả thuận, đến thời hạn đó thì các khoản
nợ phải đợc thanh toán.
- Thời hạn cho vay và trả nợ:
Thời hạn cho vay hay chính là thời gian mà các khoản nợ cha phải
thanh toán. Tính từ lúc khách hàng ký nhận nợ đến khi các khoản nợ đợc
thanh toán.
Thời hạn trả nợ: là lúc mà các khoản nợ đến hạn thanh toán. Thông th-
ờng các doanh nghiệp thờng để cho thời hạn trả nợ đợc dao động trong một
khoảng thời gian ngắn nhất định. Trong khoảng thời gian đó thì các khoản nợ
sẽ đợc thanh toán.
11
Luận văn tốt nghiệp Chu Thị Hợp - K36D2
2.1.3. Lãi suất của công nợ:
Lãi suất là một trong những biến số đợc theo dõi chặt chẽ nhất trong
nền kinh tế. Nó không những ảnh hởng trực tiếp tới quyết định của các nhà
doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các cá nhân mà còn ảnh hởng đến các tổ
chức kinh tế, các cá nhân mà còn ảnh hởng đến biến động của nền kinh tế. Để
hiểu thực chất về lãi suất, ta cần hiểu kỳ hạn trả nợ, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ,
lãi suất quá hạn, khái niệm về lãi suất hoàn vốn là một khái niệm quan trọng
để xem xét mức lãi suất nào là mức lãi suất có thể chấp nhận đợc, do dó sự
khác nhau giữa một đồng nhận đợc hôm nay và một đồng nhận đợc trong tơng
lai.
Lãi suất của công nợ không tính riêng và trả riêng nh lãi suất của ngân
hàng mà đợc tính vào giá bán của sản phẩm hàng hoá và đợc thanh toán cùng
khi thanh toán hết thời hạn tín dụng.
- Gia hạn nợ : đợc áp dụng trong trờng hợp đến thời hạn thanh toán nh-
ng doanh nghiệp trả nợ không có khả năng trả nợ thì phải xin gia hạn nợ trong
một thời gian nhất định và đợc sự đồng ý của chủ nợ với chủ nợ mà không
phải chịu sự ràng buộc gì.
- Lãi suất hoàn vốn: là lãi suất làm cân bằng giá trị hiện tại của tiền
thanh toán nhận đợc theo một công nợ với giá trị hôm nay của công nợ đó.
Khi doanh nghiệp bán hàng theo chính sách cấp tín dụng thơng mại cho
khách hàng thì giá bán hàng thanh toán trả chậm sẽ bằng giá bán hàng thanh
toán ngay cộng thêm phần lãi suất. Phần lãi suất này sẽ đợc tính trên phần giá
trị của lô hàng bán với thời hạn thanh toán chậm trả. Nếu khách hàng thanh
toán tiền lô hàng trong thời hạn tín dụng thì khách hàng sẽ đợc hởng chiết
khấu thanh toán. Thực chất đó không phải là do doanh nghiệp giảm giá cho
khách hàng mà đó chính là phần lãi suất mà khách hàng phải trả nếu khách
hàng thanh toán sau.
Trờng hợp mà sau khi gia hạn nợ mà khách hàng vẫn cha thanh toán đ-
ợc cho doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ xử lý nợ phải trả theo từng cấp độ,
bình thờng sẽ chuyển sang nợ quá hạn và ép bên nợ phải trả lãi nợ quá hạn.
Lãi nợ quá hạn thờng gấp 1,5 lần lãi suất cho vay cao nhất của tổ chức tín
dụng tại thời điểm chuyển sang nợ quá hạn.
Lãi nợ quá hạn = D nợ quá hạn *Thời hạn nợ quá hạn (tính theo ngày)*
lãi suất nợ quá hạn tính 1 ngày.
12
Luận văn tốt nghiệp Chu Thị Hợp - K36D2
Nghiên cứu lãi suất giúp doanh nghiệp tính toán đợc chính xác giá bán
trả chậm, đảm bảo đợc lãi suất hoàn vốn đợc tính đúng, hạn chế rủi ro và có đ-
ợc biện pháp vừa cứng rắn vừa mềm mỏng đối với các khoản nợ quá hạn.
2.2. Các yếu tố ảnh hởng đến công nợ:
2.2.1. ảnh hởng của các nhân tố khách quan đến công nợ:
Các nhân tố khách quan là các nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát của
doanh nghiệp,
Có rất nhiều những nhân tố khách quan ảnh hởng đến công nợ dới đây
chúng ta sẽ xem xét một số những nhân tố nh sau:
- Môi trờng kinh doanh: doanh nghiệp đóng vai trò là chủ thể của nền
kinh tế, do đó đây thực sự là một hệ thống các nhân tố ảnh hởng có tính chất
quyết định đến sự tồn tại và phát triển, nếu môi trờng kinh doanh phù hợp thì
nó tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, ngợc lại thì nó kìm hãm thậm
chí có thể đa doanh nghiệp đến chỗ làm ăn thua lỗ hoặc phá sản.
Thuộc nhóm nhân tố này bao gồm các nhân tố cụ thể sau:
+ Sự ổn định của nền kinh tế, của hệ thống pháp luật và các chính sách
kinh tế của nhà nớc:
Đây đợc coi là môi trờng pháp lý quan trọng cho hoạt động kinh doanh
của các doanh nghiệp, thể hiện chủ trơng, đờng lối về kinh tế của quốc gia
trong từng thời kỳ nhất định. Môi trờng pháp lý bình đẳng, thông thoáng, rõ
ràng sẽ tạo điều kiện thuận lợi và đòi hỏi doanh nghiệp phát triển, ngợc lại gây
khó khăn thậm chí kìm hãm. Khi đó thì các khoản phải thu và phải trả của
doanh nghiệp cũng sẽ rơi vào hoàn cảnh nh trên đó là một là doanh nghiệp sẽ
thu đợc đầy đủ các khoản nợ và thanh toán đầy đủ các khoản nợ của mình khi
đó doanh nghiệp sẽ làm ăn phát đạt, uy tín của doanh nghiệp trên thị trờng
ngày càng đợc củng cố. Ngợc lại khi có sự biến động của nền kinh tế thì tất cả
các doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng, cá nhân đều bị ảnh hởng với các mức
độ khác nhau tuỳ thuộc vào mối liên hệ với môi trờng bên ngoài.Thực tế cho
thấy khi nền kinh tế đang trong tình trạng khủng hoảng có nhiều biến động về
tình hình tài chính thì khả năng thanh toán giảm. Do đó các giao dịch buôn
bán thờng đợc diễn ra dới hình thức trả chậm, công nợ phát sinh nhiều và có
thể tạo nên dây truyền nợ giữa các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các cá
nhân.
Hệ thống luật pháp về kinh tế nói chung và hệ thống luật pháp về ngân
hàng nói riêng nếu chặt chẽ sẽ giúp doanh nghiệp ký kết đợc các hợp đồng
kinh tế an toàn các khoản nợ sẽ thu hồi đợc đầy đủ và nhanh chóng, các khoản
13
Luận văn tốt nghiệp Chu Thị Hợp - K36D2
huy động từ ngân hàng với mức lãi suất thấp và ổn định sẽ giúp doanh nghiệp
tăng vốn để có thể mở rộng đợc quy mô kinh doanh. Bên cạnh đó nếu doanh
nghiệp có điều kiện tài chính doanh nghiệp có thể đầu t chứng khoán một cách
dễ dàng.
Các hợp đồng kinh tế khi ký kết đặc biệt là các hợp đồng kinh tế với n-
ớc ngoài mà trớc khi ký kết đợc xem xét kỹ lỡng thì sẽ giảm thiểu đợc rủi ro
cho doanh nghiệp. Vì vậy khi ký kết hợp đồng kinh tế các doanh nghiệp phải
hết sức cẩn thận nếu không sẽ không thu đợc tiền hoặc nhiều khi để hớ hênh
sẽ phải mất thêm tiền đối với các khoản phải trả.
+ ảnh hởng của các nhân tố giá cả, lãi suất, thuế đến hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp.
Đây là các nhân tố thuộc môi trờng kinh tế, nơi diễn ra các hoạt động
kinh tế, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải đợc đặt trong bối cảnh
cụ thể nh phát triển hay suy thoái của nền kinh tế, mỗi sự thay đổi của các
nhân tố trên đều dẫn đến tác động tích tực hay tiêu cực. Nếu giá cả, lãi suất và
thuế đa ra phù hợp với doanh nghiệp thì sẽ thúc đẩy doanh nghiệp phát triển
và khi đó các khoản công nợ của doanh nghiệp cũng đợc thanh toán đầy đủ
đúng thời hạn. Ngợc lại thì các khoản thanh toán sẽ không đợc thanh toán đầy
đủ đúng hạn và doanh nghiệp sẽ lâm vào tình trạng nợ nần chồng chất, các
khoản phải thu thì sẽ không thu đợc.
- Môi trờng hợp tác, hội nhập kinh tế:
Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế hiện nay, sự phụ thuộc về kinh tế và
quan hệ kinh tế quốc tế là tất yếu. Sự hợp tác và hội nhập quốc tế mở ra cho
các doanh nghiệp nhiều cơ hội để mở rộng thị trờng, liên kết sản xuất, thu hút
vốn đầu t nhng nó cũng trở thành thách thức cho doanh nghiệp trong một môi
trờng mới đầy biến động và rủi ro, đòi hỏi các doanh nghiệp phải chủ động
trong hợp tác và hội nhập, tự hoàn thiện để nâng cao uy tín và chất lợng trong
quan hệ kinh tế quốc tế.
Để thuận tiện cho quá trình hợp tác và hội nhập thì hệ thống luật pháp
trong nớc phải chặt chẽ thì mới bảo vệ đợc lợi ích của doanh nghiệp, còn nếu
lỏng lẻo thì rủi ro cho các doanh nghiệp sẽ cao. Khu vực thì có các chế tài về
kinh tế và ngoại thơng nếu đa ra phù hợp với các doanh nghiệp thì sẽ thúc đẩy
doanh nghiệp phát triển, các khoản nợ sẽ đợc thanh toán đầy đủ đúng thời hạn,
ngợc lại sẽ kìm hãm các doanh nghiệp và rủi ro trong thanh toán sẽ cao.
Các hiệp định song phơng hoặc đa phơng khi ký kết giữa các quốc gia
mà đợc xem xét kỹ lỡng thì sẽ hạn chế đợc rủi ro cho các doanh nghiệp. Trong
14
Luận văn tốt nghiệp Chu Thị Hợp - K36D2
đó có quan hệ hàng hoá-tín dụng ảnh hởng đến tình hình tài chính của doanh
nghiệp. Chỉ có doanh nghiệp nào có tiềm lực tài chính lành mạnh, có khả năng
thích nghi cao mới vợt qua đợc giai đoạn này. Trên phạm vi rộng thì sự biến
động của nền kinh tế thế giới hay nền kinh tế khu vực cũng sẽ ảnh hởng trực
tiếp hay gián tiếp đến nền kinh tế trong nớc từ đó ảnh hởng đến khả năng
thanh toán của doanh nghiệp.
2.2.2. ảnh hởng của các nhân tố chủ quan:
Các khoản phải thu và phải trả tồn tại một cách tất yếu trong quá trình
kinh doanh và quá trình thanh toán của doanh nghiệp, khó có thể có số d các
khoản phải thu và phải trả ở mọi thời điểm bằng 0 bởi mua chịu và bán chịu là
việc thờng xuyên xảy ra trong kinh doanh, và nó sẽ ảnh hởng đến chính sách
bán hàng và chính sách thanh toán của doanh nghiệp. Vì vậy kiểm soát các
khoản phải thu, phải trả hợp lý, phù hợp với khả năng tài chính của doanh
nghiệp là vấn đề đặt ra trong quản trị tài chính của doanh nghiệp. Chính vì
điều đó mà chúng ta nên xem xét các nhân tố chủ quan ảnh hởng đến tình
hình thanh toán của doanh nghiệp để hạn chế thất thoát và có biện pháp để
nâng cao khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Số lợng các khoản phải thu và độ lớn của nó thay đổi theo thời gian,
phụ thuộc vào tốc độ thu hồi nợ cũ và tạo ra nợ mới, nói cách khác nó phụ
thuộc vào loại hình doanh nghiệp và chính sách kinh doanh của doanh nghiệp.
Các yếu tố đó bao gồm:
- Trình độ quản lý của doanh nghiệp:
Đây là yếu tố quan trọng nhất quyết định, nếu trình độ quản lý của các
nhà quản trị tài chính tốt biết tổ chức các nhân viên kinh doanh hợp lý, đề ra
chính sách bán chịu phù hợp, các tiêu chuẩn tín dụng đa ra có thể thu hút đợc
khách hàng đồng thời có những biện pháp để thẩm định khách hàng trớc khi
áp dụng chính sách bán chịu thì sẽ giảm thiểu đợc rủi ro trong thanh toán. Bên
cạnh đó biết sử dụng việc phát hành trái phiếu để tăng nguồn vốn kinh doanh
của doanh nghiệp vừa an toàn mà lại ổn định, doanh nghiệp có nguồn vốn bổ
sung để phát triển và trang trải các khoản nợ. Trình độ quản lý còn thể hiện ở
việc biết tổ chức hợp lý công nợ, phân chia công nợ hợp lý từ đó sẽ có biện
pháp để thu hồi công nợ, hạn chế đợc rủi ro nh phân công nợ theo tuổi thọ,
theo khả năng thu hồi nợ và đối tợng nợ từ đó doanh nghiệp sẽ biết đợc khoản
nợ nào đã đến hạn, khoản nợ nào quá hạn để có biện pháp thu hồi.
Ngoài ra trình độ quản lý còn quyết định:
+ Khối lợng sản phẩm hàng hoá bán chịu cho khách hàng:
15
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét