4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp so sánh, phân tích dựa vào các mẫu hợp đồng thế chấp, cầm cố, bảo
lãnh, các quy chế về tín dụng tại chi nhánh.
Sử dụng các tài liệu tham khảo liên quan đến vấn đề “bảo đảm tiền vay” và các
chuyên đề về vấn đề đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự từ những anh chị khóa trước
kết hợp với thông tin từ sách, báo, đài, internet để nghiên cứu đề tài này.
5. Bố cục:
Trên cơ sở lý luận cũng như mục đích nghiên cứu của đề tài, đề tài này có cơ cấu
như sau:
- Phần mở đầu.
- Phần nội dung gồm có:
CHƯƠNG 1 : KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY
CHƯƠNG 2 : QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY TRONG
HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI
SACOMBANK CHI NHÁNH PHÚ QUỐC
- Lời kết
- Danh mục tài liệu tham khảo
CHƯƠNG 1 : KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY
1.1. Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc bảo đảm tiền vay
1.1.1. Khái niệm về bảo đảm tiền vay
Theo nghị định số 178/1999/NĐ-CP về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín
dụng thì “bảo đảm tiền vay là việc tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp phòng
ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách
hàng vay” (Điều 2 khoản 1).
Như vậy thực chất của bảo đảm tiền vay là một trong những biện pháp để phòng
ngừa rủi ro của TCTD, theo đó TCTD đưa ra các hình thức bảo đảm thích hợp áp
dụng cho từng đối tượng khách hàng và biện pháp xử lý các bảo đảm đó nhằm hạn
chế tổn thất khi rủi ro tín dụng xảy ra.
1.1.2. Các nguyên tắc và đặc trưng của bảo đảm tiền vay
* Về nguyên tắc:
Theo điều 4 nghị định số 178/1999/NĐ-CP của chính phủ ngày 29/12/1999 về
đảm bảo tiền vay của các tổ chức tín dụng (sau đây gọi tắt là nghị định 178/1999/NĐ
- CP) bảo đảm tiền vay thực hiện theo các nguyên tắc:
- Tổ chức tín dụng có quyền lựa chọn quyết định cho vay có đảm bảo bằng tài sản,
cho vay không có bảo đảm theo quy định của nghị định này và chịu trách nhiệm về
quyết định của mình. Trường hợp tổ chức tín dụng nhà nước cho vay không có bảo
đảm bằng tài sản theo chỉ định của chính phủ, thì tổn thất do nguyên nhân khách quan
của các khoản vay này được Chính phủ xử lý.
- Trường hợp khách hàng vay được TCTD lựa chọn cho vay không có bảo đảm
bằng tài sản, nếu trong quá trình sử dụng vốn vay, TCTD phát hiện khách hàng vay vi
phạm cam kết trong hợp đồng tín dụng, thì TCTD có quyền áp dụng các biện pháp
bảo đảm bằng tài sản hoặc thu hồi nợ trước hạn.
- TCTD có quyền xử lý tài sản bảo đảm tiền vay theo quy định của nghị định này
và quy định của pháp luật có liên quan để thu hồi nợ khi khách vay hoặc bên bảo lãnh
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết.
- Sau khi xử lý tài sản bảo đảm bằng tiền vay, nếu khách hàng vay hoặc hoặc bên
bảo lãnh vẫn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ, thì khách hàng vay hoặc bên bảo
lãnh có trách nhiệm tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết.
* Về đặc trưng :
Nói chung bất kỳ tài sản hoặc quyền về tài sản được phép giao dịch mà có khả
năng tạo ra lưu chuyển tiền tệ đều có thể dùng làm bảo đảm. Trên thực tế từ góc độ
của người cho vay đảm bảo tiền vay phải được thể hiện ở 3 đặc trưng sau:
- Thứ nhất: giá trị của bảo đảm phải lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm: bảo đảm tiền
vay không chỉ là nguồn thu nợ thứ hai của ngân hàng mà còn có ý nghĩa thúc dục
người đi vay phải trợ nợ, nếu không họ sẽ mất tài sản. Nhưng nếu giá trị tài sản nhỏ
hơn nghĩa vụ được bảo đảm thì người đi vay dễ có động cơ không trả nợ vay. Nghĩa
vụ được bảo đảm bao gồm vốn gốc, lãi (kể các lãi quá hạn) và các chi phí khác trừ
trường hợp các bên có thỏa thuận lãi và các lọai phí không thuộc phạm vi bảo đảm
được thực hiện nghĩa vụ. Do đó việc yêu cầu giá trị của bảo đảm phải thích hợp là
cần thiết để khách hàng có trách nhiệm hơn trong nghĩa vụ trả nợ.
- Thứ hai: tài sản đảm bảo phải có sẵn thị trường tiêu thụ. Mức độ thanh khoản của
tài sản có quan hệ đến lợi ích của người cho vay. Tài sản có độ thanh khoản cao sẽ
mất ít chi phí khi xử lý hơn và có thể thu hồi được vốn nhanh hơn, do đó dễ dàng
được ngân hàng chấp nhận làm đảm bảo. Ngược lại mức độ thanh khỏan thấp tức tài
sản khó bán, khả năng thu hồi vốn thấp sẽ khó được ngân hàng chấp nhận làm đảm
bảo vay vốn. Tài sản có mức độ thanh khoản trung bình có thể được ngân hàng chấp
nhận nhưng phải tính đến chi phí do kéo dài thời gian xử lý.
- Thứ ba: tài sản bảo đảm phải có đầy đủ cơ sơ pháp lý để người cho vay có quyền
ưu tiên về xử lý tài sản. Đặc trưng này phải thể hiện được các mặt sau: Tài sản phải
thuộc sở hữu hợp pháp của người đi vay hoặc người bão lãnh và được pháp luật cho
phép giao dịch, đồng thời phải có đủ các cơ sỏ pháp lý để ngân hàng – chủ thể cho
vay được quyền ưu tiên xử lý tài sản khi người đi vay không thanh toán đúng hạn.
Như vậy dựa trên những nguyên tắc và đặc trưng của bảo đảm tiền vay để tổ chức
tín dụng xem xét trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng bảo đảm tiền vay,
đồng thời cũng giúp khách hàng vay vốn biết được những quyền lợi và nghĩa vụ của
mình để thực hiện hợp đồng đúng như đã cam kết. Tuy nhiên trong từng hình thức
bảo đảm tiền vay khác nhau mà ngân hàng có những quy định riêng phù hợp. Chúng
ta sẽ xem xét các hình thức bảo đảm tiền vay cụ thể dưới đây mà các ngân hàng
thường sử dụng.
1.2. Hình thức bảo đảm tiền vay
1.2.1 Bảo đảm tiền vay bằng tài sản cầm cố
a. Khái niệm cầm cố tài sản.
Theo Bộ luật Dân sự Việt Nam ban hành ngày 14/6/2005 (sau đây gọi tắt là bộ
luật Dân sự năm 2005), điều 326 định nghĩa: “cầm cố là việc một bên (sau đây gọi là
bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là
bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự”. Như vậy, bản chất của
cầm cố là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Theo đó trong quan hệ
tín dụng ngân hàng, cầm cố tài sản được hiểu là việc khách hàng (bên vay vốn) dùng
tài sản thuộc sở hữu của mình giao cho tổ chức tín dụng (bên cho vay) để đảm bảo
thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
b.Đối tượng của cầm cố.
Trước đây, trên cơ sở của Bộ luật Dân sự năm 1995, tại điều 2 của Quy chế
thế chấp, cầm cố tài sản và bảo lãnh vay vốn ngân hàng ban hành kèm theo quyết
định số 217/QĐ-NHNN của thống đốc NHNN Việt Nam ngày 17/8/1996 quy
định: “cầm cố tài sản vay vốn ngân hàng là việc bên vay vốn có nghĩa vụ giao tài
sản là động sản thuộc sở hữu của mình cho TCTD để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
trả nợ bao gồm nợ gốc, lãi và tiền nộp phạt nếu có, nếu tài sản mà pháp luật quy
định phải đăng ký quyền sở hữu thì các bên có thể thỏa thuận bên cầm cố vẫn giữ
tài sản cầm cố và giao bản gốc giấy tờ quyền sở hữu cho bên nhận cầm cố giữ”.
Theo đó, đối tượng của cầm cố chỉ có thể là động sản, mở rộng hơn so với các quy
định trước đây là quyền tài sản (trừ quyền sử dụng đất là đối tượng của thế chấp).
Nhưng điều 15 nghị định 165/1999/ NĐ-CP về giao dịch bảo đảm lại cho phép bên
cầm cố có thể được giữ các tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu. Như vậy
cùng một vấn đề văn bản dưới luật lại mâu thuẫn với văn bản luật, do đó gây rất
nhiều khó khăn cho ngân hàng và khách hàng khi thực hiện việc vay vốn có tài sản
cầm cố. Sự ra đời của Bộ luật Dân sự năm 2005, đã tháo gỡ được vướng mắc trên
để tạo điều kiện cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân vay vốn ngân hàng phát triển
sản xuất. Bộ luật Dân sự năm 2005 đã không định nghĩa bất động sản như Bộ luật
Dân sự năm 1995 mà quy định mang tính liệt kê, theo đó xác định một số tài sản là
bất động sản (như nhà ở, công trình xây dựng, đất đai ) và dùng phương pháp loại
trừ để định nghĩa động sản. Đồng thời phân biệt tài sản cầm cố với tài sản thế chấp
bằng tiêu chí dịch chuyển hoặc không dịch chuyển tài sản từ bên có nghĩa vụ sang
bên có quyền khi bên có nghĩa vụ dùng tài sản đó để cầm cố, thế chấp; chứ không
phân biệt bằng động sản hay bất động sản như quy định của Bộ luật Dân sự năm
1995.
Tài sản cầm cố, theo thông tư số 07/2003/TT-NHNN của NHNN Việt Nam
ngày 19/5/2003 về hướng dẫn một số quy định về bảo đảm tiền vay của các TCTD
bao gồm:
• Máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng
tiêu dùng, kim khí quý, đá quý, và các vật liệu có giá trị khác.
• Ngoại tệ bằng tiền mặt, số dư trên tài khoản tiền gửi tại tổ chức cung ứng dịch
vụ thanh toán bằn tiền Việt Nam và ngoại tệ.
• Trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, sổ tiết kiệm,
thương phiếu, các giấy tờ trị giá được bằng tiền. Riêng đối với cổ phiếu của
TCTD phát hành, khách hàng vay không được cầm cố ở chính TCTD đó.
• Quyền đòi tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp,
quyền đòi nợ, quyền được nhận só tiền bảo hiểm, các quyền tài sản khác phát
sinh từ hợp đồng hoặc từ các căn cứ pháp lý khác.
• Quyền đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, kể cả trong doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài.
• Quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên theo quy định của pháp luật.
• Tàu biển theo quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam, tàu bay theo quy định
của Bộ luật Hàng không dân dụng Việt Nam trong trường hợp được cầm cố.
• Tài sản hình thành trong tương lai là động sản hình thành sau thời điểm ký kết
giao dịch cầm cố và sẽ thuộc quyền sở hữu của bên cầm cố như hoa lợi, lợi
tức, tài sản hình thành từ vốn vay, các động sản khác mà bên cầm cố có quyền
nhận.
• Các tài sản khác theo quy định của pháp luật.
Lợi tức và các quyền phát sinh từ tài sản cầm cố cũng thuộc tài sản cầm cố,
nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định; trường hợp tài sản cầm cố
được bảo hiểm thì khoản tiền bảo hiểm cũng thuộc tài sản cầm cố.
c.Chủ thể trong quan hệ cầm cố.
Chủ thể trong quan hệ cầm cố là chủ thể của quan hệ tín dụng. Quan hệ cầm cố
có thể coi là quan hệ phụ, được hình thành khi phát sinh quan hệ tín dụng. Theo
thông tư số 07/2003/TT-NHNN và Điều 1.4 của nghị định 85/2002/NĐ-CP của
chính phủ ngày 25/10/2002 về sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định số
178/1999/NĐ-CP về bảo đảm tiền vay của các TCTD (sau đây gọi tắt là nghị định
số 85/2002/NĐ-CP) quy định chủ thể tham gia vào quan hệ cầm cố gồm:
- Bên cầm cố (bên phải dùng tài sản của mình giao cho bên nhận cầm cố để đảm
bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ) là khách hàng vay vốn bao gồm các cá nhân, hộ gia
đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, pháp nhân Việt Nam và
cá nhân, pháp nhân nước ngoài có đủ điều kiện vay vốn tại TCTD theo quy định
của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
- Bên nhận cầm cố là các TCTD bao gồm TCTD Nhà nước, TCTD cổ phần,
TCTD hợp tác (ngân hàng hợp tác, quỹ tín dụng nhân dân, hợp tác xã tín dụng),
TCTD liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tai Việt Nam,
TCTD phi ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam.
d.Nội dung của quan hệ cầm cố.
Nội dung của quan hệ cầm cố trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng, là việc bên
cầm cố (bên đi vay) giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên nhận cầm cố
(TCTD cho vay) để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Trong bất kỳ mối quan hệ
nào các bên cũng có quyền và nghĩa vụ nhất định. Theo Bộ luật Dân sự năm 2005
và thông tư số 07/2003/TT-NHNN, các chủ thể trong quan hệ cầm cố có các
quyền và nghĩa vụ sau:
* Quyền của khách hàng vay vốn (Điều 331, Bộ luật Dân sự năm 2005):
- Yêu cầu TCTD (bên nhận cầm cố) đình chỉ việc sử dụng tài sản cầm cố, nếu do
sử dụng mà tài sản cầm cố có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị.
- Được bán tài sản cầm cố nếu được TCTD đồng ý.
- Được thay thế tài sản cầm cố bằng một tài sản khác nếu có thỏa thuận với
TCTD.
- Yêu cầu TCTD giữ tài sản cầm cố trả lại tài sản cầm cố khi nghĩa vụ được bảo
đảm bằng cầm cố chấm dứt.
- Yêu cầu bên nhận cầm cố bồi thường thiệt hại xảy ra đối với tài sản cầm cố.
* Nghĩa vụ của khách hàng vay (Điều 330, Bộ luật Dân sự năm 2005):
- Giao tài sản cầm cố cho TCTD theo đúng thỏa thuận.
- Báo cho TCTD về quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố nếu có, trong
trường hợp không thông báo thì TCTD có quyền hủy hợp đồng cầm cố tài sản và
yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người
thứ ba đối với tài sản cầm cố.
- Thanh toán cho TCTD biết chi phí hợp lý để bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố,
trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
* Quyền của tổ chức tín dụng (Điều 333, Bộ luật Dân sự năm 2005):
- Được yêu cầu người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật tài sản cầm cố trả lại tài
sản đó.
- Được khai thác công dụng tài sản cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản
cầm cố, nếu các bên có thỏa thuận.
- Yêu cầu xử lý tài sản cầm cố theo phương thức đã thỏa thuận hoặc theo quy
định của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ.
- TCTD được thanh toán chi phí hợp lý bảo quản tài sản cầm cố khi trả lại tài sản
cho khách hàng vay.
* Nghĩa vụ của tổ chức tín dụng (Điều332, Bộ luật Dân sự năm 2005):
- Bảo quản giữ gìn tài sản cầm cố, nếu làm mất hoặc hư hỏng tài sản cầm cố thì
phải bồi thường thiệt hại cho bên cầm cố.
- Không được bán, trao đổi tặng cho, cho thuê, cho mượn tài sản cầm cố, không
được đem tài sản cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác.
- Không được khai thác công dụng hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, nếu
không được bên cầm cố đồng ý.
- Trả lại tài sản cầm cố cho khách hàng vay khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm
cố chấm dứt.
* Trong trường hợp có bên thứ ba tham gia vào quan hệ cầm cố thì:
Bên thứ ba giữ tài sản cầm cố có quyền: Nhận thù lao và thanh toán chi phí giữ
gìn, bảo quản tài sản theo thỏa thuận của mỗi bên. Được khai thác công dụng và
hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố nếu các bên có thỏa thuận, trừ trường hợp
lợi tức vẫn thuộc tài sản cầm cố.
Nghĩa vụ của bên thứ ba giữ tài sản cầm cố như nghĩa vụ của TCTD giữ tài sản
cầm cố theo quy định của thông tư số 07/2003/TT-NHNN.
đ. Hình thức cầm cố tài sản
Theo quy định tại điều 327 Bộ luật Dân sự năm 2005 và mục 1 chương II của
thông tư số 07/2003/TT-NHNN: “Việc cầm cố tài sản phải được lập thành văn
bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng tín dụng”. Theo
thông tư này, hợp đồng cầm cố tài sản có các nội dung chủ yếu sau:
- Tên và địa chỉ các bên, ngày tháng năm.
- Nghĩa vụ đươc bảo đảm.
- Mô tả tài sản cầm cố, giá trị của tài sản cầm cố, riêng tài sản cầm cố là tài sản
hình thành trong tương lai có thể mô tả khái quát về tài sản.
- Bên giữ tài sản, giấy tờ của tài sảm cầm cố.
- Quyền và nghĩa vụ của các bên.
- Các thỏa thuận về trường hợp xử lý và phương thức xử lý tài sản cầm cố.
Các thỏa thuận khác.
1.2.2. Bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp
a. Khái niệm thế chấp tài sản.
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp của khách hàng vay là một biện pháp
bảo đảm tiền vay mà các TCTD thường áp dụng. Theo quy định của điều 342, Bộ
luật Dân sự năm 2005: “Thế chấp tài sản là viêc một bên (bên thế chấp) dùng tài sản
thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (bên
nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp”. Trong
trường hợp thế chấp toàn bộ hoặc một phần bất động sản, động sản có vật phụ thì vật
phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp. Tài sản thế chấp do
khách hàng vay giữ, các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế
chấp.
Trong quan hệ tín dụng ngân hàng khách hàng vay vốn có thể dùng tài sản đã có
thuộc quyền sở hữu của mình để đảm bảo cho khoản vay. Bên cạnh đó theo quy định
của pháp luật khách hàng vay cũng có thể dùng chính tài sản hình thành từ vốn vay
để đảm bảo cho khoản vay, nói cách khác trong trường hợp này tài sản thế chấp được
hình thành từ việc sử dụng khoản tiền vay và hợp đồng thế chấp được ký khi tài sản
đã hình thành.
Nếu như biện pháp thế chấp tài sản thông thường có thể được áp dụng để bảo đảm
cả nghĩa vụ hợp đồng và nghĩa vụ ngoài hợp đồng thì bảo đảm tiền vay bằng tài sản
thế chấp của khách hàng vay chỉ đươc áp dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng-nghĩa vụ
trả nợ của khách hàng vay theo hợp đồng tín dụng giữa họ với TCTD. Vì vậy, có thể
nói bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp của khách hàng vay là hợp đồng phụ đặt
ra bên cạnh hợp đồng chính-hợp đồng tín dụng để bảo đảm cho việc thực hiện hợp
đồng chính.
b. Chủ thể thế chấp tài sản.
Cũng như các quan hệ thế chấp khác, chủ thể của giao dịch bảo đảm tiền vay
bằng tài sản thế chấp của khách hàng vay bao gồm bên thế chấp-bên bảo đảm (bên
phải dùng tài sản của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ) và bên nhận thế
chấp-bên được bảo đảm.
- Bên thế chấp là khách hàng vay bao gồm cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh
nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, pháp nhân Việt Nam và cá nhân, pháp nhân nước
ngoài có đủ điều kiện vay vốn tại TCTD theo quy định của NHNN Việt Nam (khoản
9 điều 2 nghị định số 178/1999/ NĐ-CP và khoản 4 điều 1 nghị định 85/2002/NĐ-
CP).
- Bên nhận thế chấp là các TCTD đã cấp tín dụng dưới hình thức cho vay đối với
khách hàng vay theo quy định của luật các TCTD.
c. Đối tượng của thế chấp.
Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 1995, tài sản dùng để thế chấp phải là bất
động sản thuộc sở hữu của khách hàng vay. Đây là một quy định quá cứng nhắc, gây
khó khăn và làm hạn chế khả năng được vay vốn của khách hàng, quyền được cho
vay của TCTD. Với sự ra đời của Bộ luật dân sự năm 2005, đã giải quyết được
vướng mắc trên, theo đó tài sản dùng để thế chấp không còn bó hẹp ở bất động sản
nữa mà thay vào đó là mọi tài sản kể cả động sản và bất động sản được phép giao
dịch theo quy định của pháp luật đều có thể dùng làm tài sản thế chấp. Theo quy định
tại mục 2.2 chương I thông tư số 07/2003/TT-NHNN, tài sản thế chấp bao gồm:
- Nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất, kể cả các tài sản gắn liền với nhà ở,
công trình xây dựng và các tài sản khác gắn liền với đất.
- Giá trị quyền sử dụng đất mà pháp luật về đất đai quy định được thế chấp.
- Tàu biển theo quy định của bộ luật Hàng hải Việt Nam, tàu bay theo quy định của
luật Hàng không dân dụng Việt Nam trong trường hợp được thế chấp.
- Tài sản hình thành trong tương lai là bất động sản hình thành sau thời điểm ký kết
giao dịch thế chấp và sẽ thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp như hoa lợi, lợi tức, tài
sản hình thành từ vốn vay, công trình xây dựng, các bất động sản khác mà bên thế
chấp có quyền nhận.
- Các tài sản khác theo quy định của pháp luật.
d. Phạm vi bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong thế chấp tài sản.
Phạm vi bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay đối
với TCTD, bao gồm tiền vay, lãi vay, lãi phạt quá hạn, các khoản phí nếu có được
ghi trong hợp đồng tín dụng mà khách hàng vay phải trả theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, nghĩa vụ trả lãi vay, lãi phạt quá hạn các khoản phí nếu có không thuộc
phạm vi bảo đảm nghĩa vụ nếu các bên có thỏa thuận. Nghĩa vụ trả nợ ghi trong hợp
đồng tín dụng có thể được bảo đảm bằng một hoặc nhiều tài sản thế chấp của khách
vay với điều kiện tổng giá trị các tài sản thế chấp phải lớn hơn nghĩa vụ trả nợ được
bảo đảm (điều 9 nghị định số 178/1999/NĐ-CP và điều 347 Bộ luật Dân sự năm
2005).
Một tài sản của khách hàng vay có thể được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều
nghĩa vụ trả nợ tại một hoặc nhiều TCTD, với điều kiện giá trị tài sản thế chấp được
xác định tại thời điểm ký hợp đồng thế chấp phải lớn hơn các nghĩa vụ trả nợ được
bảo đảm trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (điều 1.13 Nghi định
85/2002/NĐ-CP).
đ. Nội dung của quan hệ thế chấp bảo đảm tiền vay.
Nội dung của quan hệ thế chấp để bảo đảm tiền vay được cấu thành bởi hai quan
hệ: thứ nhất là quan hệ giữa TCTD và khách hàng vay liên quan đến tài sản thế chấp;
thứ hai là quan hệ trực tiếp giữa TCTD đối với tài sản thế chấp. Đây là hai mối quan
hệ đan xen với nhau và được thể hiên cụ thể như sau:
đ.1 Đối với bên thế chấp:
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét